Saturday, May 7, 2016

70564

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Nh vậy Th quản lý là công việc kiểm toán báo cáo tài chính của các kiểm toán viên độc lập, nội dung chủ yếu của th quản lý là đề cập tới những vấn đề yếu kém cần khắc phục trong quá trình điều hành quản lí doanh nghiệp. Qua th quản lý, các nhà quản lí doanh nghiệp sẽ thấy đợc những điểm còn tồn tại, những lời khuyên và những gợi ý của kiểm toán viên một cách độc lập khách quan nhằm trợ giúp các nhà quản lý hoàn thiện hệ thống kiểm soát hệ thống quản lý điều hành doanh nghiệp. Kiểm toán độc lập là loại hình còn mới mẻ song đã đợc chính phủ và nhà nớc quan tâm. Chức năng của kiểm toán độc lập đã đợc khẳng dịnh trong Thông t hớng dẫn thực hiện số 22TC/CĐKT của Bộ tài chính: Chức năng của kiểm toán độc lập là kiểm tra xác nhận tính đúng đắn, trung thựcvà hợp lý của các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị, và tren cơ sở kết quả kiểm toán đa ra những kết luận đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách chế độ tài chính, kế toán và hiệu quả hoạt động của đơn vị. Chức năng xác minh và đa ra ý kiến của kiểm toán độc lập đợc thực hiện để trình bày trong phần Phạm vi của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính. 3.3.Báo cáo kiểm toán. Theo quy định mang tính phổ biến của một quốc gia hoặc của ủy ban về chuẩn mực kiểm toán (IAPC) của liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) thì báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính đợc quy định viết dới dạng văn bản và phải tuân thủ các quy định cả về mặt nội dung và hình thức. Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính: là loại báo cáo bằng văn bản do kế toán viên lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị (tổ chức hoặc doanh nghiệp ) đã đợc kiểm toán. Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong họat động kiểm toán và với ngời sử dụng báo cáo tài chính. Đối với họat động kiểm toán, báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là khâu cuối cùng trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, thể hiện sự xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin báo cáo tài chính công khai. Sự xác nhận này có ý nghĩa pháp lý để chứng tỏ rằng số liệu và các thông tin của báo cáo tài chính đã kiểm toán là đảm bảo độ tin cậy. Các kiểm toán viên độc lập đã đa ra nhiều mức độ thể hịên sự xác nhận độ trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính. Xác nhận toàn bộ theo dạng nhận xét này thì các thông tin trên báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý trên khía cạnh chính và việc trình bày các thông tin này là phù hợp với các nguyên tắc kế toán chung đợc thừa nhận. Xác nhận này 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 đảm bảo cho ngời sử dụng trên báo cáo tài chính tin tởng rằng về các nội dung quan trọng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã đợc lập, phản ánh trung thực và hợp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp đó. Xác nhận không toàn bộ: Trong trờng hợp này, kiểm toán viên thờng dùng các thuật ngữ ngoại trừ chứng nhận từng phần hoặc nhận xét có điều kiện trong báo cáo kiểm toán. Khi đó báo cáo có dạng: ngoại trừ các điểm a,b,c... và ảnh hởng của nó đến các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính thì báo cáo tài chính bảo đảm tính trung rhực và hợp lý về tình hình tài chính doanh nghiệp. Và khi đó, chúng ta cần hiểu rằng với xác nhận này cũng có nghĩa là có nội dung quan trọng trừ các vấn đề a,b,c... và các ảnh hởng của nó tới thông tin trên báo cáo tài chính đã không đợc kiểm toán viên đa ý kiến về sự trung thực và hợp lý Không nêu ý kiến xác nhận (từ chối ý kiến): Vì các lý do nào đó a,b,c... (nh hạn chế do phạm vi của kiểm toán, hạn chế do việc thu thập bằng chứng để khẳng định và đa ra ý kiến nhận xét) mà kiểm toán viên không thể đa ra ý kiến về báo cáo của doanh nghiệp đã đợc lập và trình bày. Khi đó chúng ta cần hiểu rằng vì những lý do đã nêu trên mà kiểm toán viên không thể đa ra và khẳng định chắc chắn rằng các thông tin trên báo cáo tài chính đã đợc lập một cách đúng đắn, phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính doanh nghiệp. Đa ra ý kiến trái ngợc (phản bác) về sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Trong trờng hợp này kiểm toán viên đã có bằng chứng chắc chắn và có sự khẳng định về viêc lập và trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính đã có sự không trung thực và hợp lý. Các mức độ xác nhận này nhằm đa tới cho ngời sử dụng các thông tin trên báo cáo tài chính các mức độ tin cậy khác nhau để có quyết định thích hợp, tránh đợc các sai lầm hoặc thiệt hại nghiêm trọng. Chẳng hạn nh: Nó giúp cho bản thân ban giám đốc công ty dùng làm căn cứ trong việc điều hành, quản lý họat động. Ban giám đốc có thể an tâm sử dụng những báo cáo tài chính này để ra các quyết định kinh doanh. Hơn nữa, các báo cáo kết quả kiểm toán luôn đa ra những yếu kém trong quá trình quản lý và đề nghị phơng cách cải tiến. Đó là những lời t vấn quản lý quý báu cho các nhà lãnh đạo công ty. Nếu đối tợng đợc kiểm toán là một doanh nghiệp nhà nớc thì kết quả kiểm toán này có thể đợc cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính nhà nớc dùng làm căn cứ xét duyệt quyết toán hàng năm. Đối với mọi doanh nghiệp nói chung, cơ quan thuế vụ cũng tham khảo kết quả kiểm toán các đơn vị này để tính toán số thuế và các khoản phải nộp khác mà đơn vị phải làm với ngân sách nhà nớc. 12 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Công chúng những nhà đầu t tiềm tàng cũng cần xem xét các báo cáo tài chính có th xác nhận của kiểm toán độc lập để tự thẩm định và quyết định việc đặt vốn vào các công ty có phát hành cổ phiếu (gọi hùn vốn). Và ngay cả sau khi mua cổ phiếu, trở thành cổ đông hay sau khi mua trái phiếu, trở thành trái chủ của công ty thông qua các bức tranh tài chính có th xác nhận của kiểm toán độc lập để kịp thời làm những quyết định mua bán cổ phiếu, trái phiếu... Các ngân hàng cũng là đối tợng thờng xuyên sử dụng báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên độc lập về các báo cáo tài chính của các khách hàng vay nợ. Tất nhiên, báo cáo kiểm toán không phải là một sự đảm bảo rủi ro tín dụng, nhng đó là một tài liệu cần có để xét cho vay, để nâng cao độ tin cậy vào các báo cáo tài chính khi đo lờng mức độ rủi ro của khách hàng. Đối với các doanh nghiệp là bạn hàng cung ứng nguyên liệu vật t, khi xét bán chậm trả cho công ty tơng đơng một khoản cấp tín dụng họ cũng phân tích tình hình tài chính của công ty. Và nếu có báo cáo kiểm toán của kiểm toán độc lập họ cũng an tâm hơn về số liệu đợc phản ánh qua các báo cáo đó. Tại những nớc tiên tiến, ngay cả những ngời đi xin việc cũng muốn xem các báo cáo kiểm toán có xác nhận của kiểm toán độc lập. Vì rằng họ muốn đầu quân về những công ty vững mạnh hơn là về những công ty yếu kém, khi công ty bị phá sản, họ lại bị thất nghiệp. Về phía công ty, nếu muốn thu hút nhân tài về phục vụ cho công ty, họ cũng phải chứng minh sự vững mạnh của công ty thông qua bức tranh tài chính có xác nhận của kiểm toán độc lập. 3.4.Các phơng pháp kiểm toán để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến Việc thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến và cuối cùng là đa ra đợc một báo cáo kiểm toán có giá trị pháp lý cao đòi hỏi kiểm toán độc lập phải có một hệ thống phơng pháp kiểm toán: các phơng pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp,đối chiêu lôgic) và các phơng pháp kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra). Tuy nhiên, trong kiểm toán bảng khai tài chính các phơng pháp này kết hợp với nhau tạo ra các điểm đặc thù. Trong kiểm toán thờng áp dụng hai loại thử nghiệm: - Thử nghiêm cơ bản là cách thức kiểm tra lại các thông tin biểu hiện bằng tiền phản ánh trên bảng tổng hợp bằng việc kết hợp các phơng pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ theo trình tự và cách thức kết hợp xác định. - Thử nghiệm tuân thủ: là dựa vào kết quả của hệ thống kiểm sóat nội bộ khi hệ thống này tồn tại và hoạt động có hiệu lực. Để khẳng định sự tồn tại và hiệu lực này cần khảo sát, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 Nguyên lý chung của việc áp dụng các thử nghiệm là: thử nghiệm tuân thủ chỉ đợc thực hiện khi hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và đợc đánh giá là có hiệu lực nhng vẫn kết hợp một số ít thử nghiệm cơ bản. Trong trờng hợp ngợc lại khi hệ thống kiểm soát nội bộ không tồn tại hoặc hoạt động không có hiệu lực thì kiểm toán độc lập sẽ không thực hiện kiểm toán tuân thủ. Bản chất cũng nh số lợng của các thử nghiệm cơ bản đợc biểu hiện qua việc kết hợp giữa các phơng pháp cơ bản của kiểm toán vào việc hình thành các trắc nghiệm. Trắc nghiệm là cách thức hay trình tự xác định trong việcvận dụng các phơng pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ vào việc xác minh các nghiệp vụ; các số d tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành bảng khai tài chính. Tùy yêu cầu và đối tợng cần xác minh, các phép kết hợp giữa các phơng pháp kiểm toán cơ bản cũng khác nhau cả về số lợng và trình tự kết hợp giữa các phơng pháp kiểm toán cơ bản cũng khác nhau cả về số lợng và trình tự kết hợp và từ đó hình thành 3 loại trắc nghiệm cơ bản. Trắc nghiệm công việc chính là cách thức và trình tự rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quá trình quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trớc hết là hệ thống kế toán. Thông thờng, trong kiểm toán tài chính, trắc nghiệm công việc để xác định tính đúng đắn trong tổ chức hệ thống kế toán từ việc tuân thủ các qui định về việc lập, xét duyệt và kiểm tra, sử dụng chứng từ kế toán đến ghi sổ và cộng sổ chi tiết hoặc Nhật ký đến kết chuyển các số phát sinh vào Sổ cái. Do vậy, trắc nghiệm công việc hớng vào hai mặt cơ bản của tổ chức kế toán là thủ tục kế toán và độ tin cậy của các thông tin kế toán. Từ đó, trắc nghiệm công việc đợc phân định thành hai loại: trắc nghiệm đạt yêu cầu và trăc nghiệm độ vững chãi. Trắc nghiệm đạt yêu cầu của công việc là trình tự rà soát các thủ tục kế toán hay thủ tục quản lý có liên quan đến đối tợng kiểm toán. Ví dụ: kiểm toán viên có thể soát xét lại thủ tục lập chứng từ hoặc rà soát lại thủ tục kiểm soát khác (nh phân công, phân nhiệm hoặc ủy quyền ...). Đối tợng rà soát này có thể dựa trên dấu vết cụ thể (nh chữ ký trên các chứng từ) hoặc không để lại dấu vết cụ thể (nh phân công, phân nhiệm). Trong quan hệ đó trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện trong các tình huống khác nhau: có dấu vết và không có dấu vết. Trong trờng hợp có dấu vết, kiểm toán viên cần đối chiếu chữ ký trên các chứng từ và xem xét sự tơng xứng của ngời ký duyệt với chức trách của từng ngời. Trong trờng hợp không có dấu vết, kiểm toán viên cần phỏng vấn cán bộ, nhân viên có liên quan hoặc quan sát công việc thực tế của họ. Ví dụ: khi kiểm toán vốn bằng tiền, kiểm toán có thể đối chiếu chữ ký của ngời lập, ngời duyệt, ngời ghi sổ, ngời kiểm tra trên các biên lai, hóa đơn, các lệnh thu lệnh chi, các phiếu thu, phiếu chi, các bảng sao 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 kê của ngân hàng ... theo chức trách của từng ngời (trắc nghiệm đạt yêu cầu có dấu vết) hoặc xem xét việc phân cách nhiệm vụ giữa những ngời giữ tiền (thủ quỹ) với ngời ghi sổ phỏng vấn nhân viên thu tiền hoặc quan sát thực tế quá trình thu tiền nộp tiền và ghi sổ (trắc nghiệm đạt yêu cầu không có dấu vết). Nh vậy, trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc sử dụng chủ yếu trong việc đánh giá sự hiện diện của hệ thống kiểm soát nội bộ và sự thỏa mãn mục đích: đảm bảo sự tuân thủ của hệ thống kiểm sóat nội bộ của khách thể kiểm toán và gắn liền với kiểm soát nội bộ. Do đó, trong thực tế trắc nghiệm đạt yêu cầu còn đợc gọi là trắc nghiệm kiểm soát. Tuy nhiên, trắc nghiệm này cha hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu đánh giá hiệu lực của kiểm soát nội bộ, đặc biệt trong việc khẳng định mức độ của thông tin. Trắc nghiệm độ vững chãi của công việc là trình tự rà soát các thông tin về giá trị trong kế toán. Trong trờng hợp này kiểm toán viên phải tính toán lại số tiền trên chứng từ kế toán với sổ sách kế toán khác có liên quan. Qua đó, kiểm toán viên có thể khẳng định mức độ thỏa mãn mục đích bảo đảm độ tin cậy của thông tin của hệ thống kiểm soát nội bộ. Đó là tin cậy ở con số. Về nguyên tắc, trắc nghiệm đạt yêu cầu (trắc nghiệm chi tiết về thủ tục kiểm soát) chỉ đợc áp dụng khi rủi ro kiểm soát đợc đánh giá ở mức thấp. Khi đó, trắc nghiệm này đợc sử dụng để kiểm tra lại đánh giá trên. Nếu kết quả kiểm toán này trùng hợp với đánh giá ban đầu thì kiểm toán viên có thể tin tởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ để giảm bớt phần lớn trắc nghiệmvề độ vững chãi. Ngợc lại, nếu rủi ro kiểm soát đợc đánh giá là tồn tại ở mức cao thì có thể bỏ qua trắc nghiệm đạt yêu cầu và tiến hành ngay trắc nghiệm độ vững chãi (với số lợng lớn). Tuy nhiên, trên thực tế trong trắc nghiệm công việc, có khi đồng thời thực hiện cả hai trắc nghiệm: trắc nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ vững chãi. Trắc nghiệm trực tiếp số d là cách thức kết hợp các phơng pháp cân đối, phân tích đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số d cuối kỳ (hoặc tổng số phát sinh) ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối tài sản hoặc vào Báo cáo kết quả kinh doanh. Ví dụ: chi tiết hóa các khoản mục tổng hợp, xác nhận các khoản phải thu, xem xét hiện vật các tài sản, đối chiếu các khoản phải trả ngời bán... nhờ trắc nghiệm này phần lớn bằng chứng thu thập đợc từ một nguồn độc lập với khách thể kiểm toán nên bằng chứng thờng có chắt lợng cao. Tuy nhiên, trắc nghiệm trực tiếp này thờng có chi phí kiểm toán lớn nên số lợng trắc nghiệm trực tiếp số d cần thực hiện tùy thuộc vào kết quả trắc nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ vững chãi trong trắc nghiệm công việc cùng trắc nghiệm phân tích có liên quan đến các tài khoản. Phần lớn trắc nghiệm trực tiếp số d là trắc nghiệm độ vững chãi. Tuy nhiên cũng có số ít trắc nghịêm trực tiếp số d là trắc nghiệm đạt yêu cầu. Ví dụ: khách 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 thể kiểm toán đã kiểm kê vật t bằng hai bộ phận độc lập nhau để bảo đảm kết quả chính xác. Kiểm toán viên có thể thực hiện trắc nghiệm đạt yêu cầu bằng cách xem xét hai bộ phận có kiểm kê độc lập hay không? Trong trờng hợp không tin cậy, kiểm toán viên buộc phải thực hiện trắc nghiệm vững chãi qua việc cho kiểm kê lại vật t để xác minh. Trắc nghiệm phân tích là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế và xu hớng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgic, cân đối... giữa các trị số (bằng tiền) của các chỉ tiêu hoặc của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Các trắc nghiệm phân tích có thể áp dụng trong 3 giai đoạnkhác nhau: Trong lập kế hoạch, trắc nghiệm phân tích giúp xác định những khoản mục, nghiệp vụ trọng yếu cần kiểm toán tơng ứng với rủi ro dự định. Trong thực hành công việc kiểm toán, trắc nghiệm phân tích đợc kết hợp với trắc nghiệm trực tiếp số d và khi sắp kết thúc kiểm toán trắc nghiệm phân tích đợc sử dụng để đánh giá tính hợp lý chung của Bảng khai tài chính. Trắc nghiệm phân tích giúp cho kiểm toán viên đánh giá khái quát tính hợp lý chung của các xu hớng biến động và các quan hệ kinh tế đồng thời xác định phạm vi và mức độ áp dụng các trắc nghiệm khác qua đánh giá trên: nếu trắc nghiệm phân tích cho thấy biểu hiện bất thờng về mức biến động của một khoản mục hay một loại tài sản về một quan hệ cụ thể thì kiểm toán viên sẽ thận trọng khi xác định mức độ và phạm vi áp dụng các trắc nghiệm khác. Ví dụ, qua phân tích tỷ lệ lãi ròng, thấy có biểu hiện bất thờng (so với năm trớc, hoặc với các đơn vị trong ngành hoặc so với kế hoạch tài chính...), kiểm toán viên quyết định áp dụng trắc nghiệm công việc hoặc trắc nghiệm trực tiếp số d về tiêu thụ hoặc về chi phí, hoặc cả đối tợng trên. Ngợc lại, nếu trắc nghiệm phân tích cho thấy không có biến động và quan hệ bất thờng nào thì có thể giảm bớt các trắc nghiệm khác. Trong trờng hợp này đòi hỏi kiểm toán viên phải có năng lực phán đoán và giàu kinh nghiệm. Từ những điều trình bày trên có thể thấy giữa trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số d và trắc nghiệm phân tích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điểm khác biệt giữa các trắc nghiệm trớc hết và chủ yếu là đối tợng và từ đó, cách thức kết hợp các phơng pháp kiểm toán cơ bản: cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgic, kiểm kê , thực nghiệm. Trong khi đó, trắc nghiệm trực tiếp số d chú trọng nhiều vào số d cuối kỳ trên Sổ cái. Do đó, trắc nghiệm này chú trọng nhiều đến tính hợp lý của số tiền trên các số d hoặc số phát sinh. Từ đó, trắc nghiệm này thờng sử dụng rộng rãi phơng pháp điều tra (phỏng vấn, th xác nhận); chỉ trong trờng hợp đặc biệt trắc nghiệm này mới sử dụng phơng pháp kiểm kê kết hợp cân đối và chi tiết hóa (phân tích). Đặc biệt, trắc nghiệm phân tích chỉ sử dụng các ph16

No comments:

Post a Comment