Monday, May 23, 2016

Hạch toán tiền lương và các quỹ trích theo lương trong doanh nghiệp

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 2.4.-Hạch toán KPCĐ,BHXH,BHYT. TK111, 112 TK622 TK3382, 3383, 3384 Np cho c quan qun lý Trớch theo tin lng ca qu LTT tớnh vo chi phớ TK334 TK334 BHXH phi tr cho CNV Trớch theo tin lng ca trong DN CNV tr vo thu nhp ca h TK627 TK111, 112 Chi tiờu KPC ti DN Trớch theo tin lng ca NVPX tớnh vo chi phớ TK641 Trớch theo tin lng ca NVBH DN tớnh vo chi phớ TK642 Tớch theo tin lng ca NVQLDN tớnh vo chi phớ TK111, 112 Nhn tin cp bự qu BHXH 11 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 2.5.-Hạch toán quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. TK111, 112 TK351 TK642 Tr tin tr cp mt vic Trớch qu d phũng tr lm cho ngi L cp mt vic lm Tr tin tr cp mt vic cho ngi lao ng khi khụng cũn s d qu d phũng III.Thực trạng về hạch toán tiền lơng và các quỹ trích theo lơng trong doanh nghiệp hiện nay. 1.Ưu điểm -Từ ngày 15/9/2005,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2005/NĐ-CP vế điều chỉnh mức lơng tối thiểu chung.Từ ngày 1/10/2005 nâng mức lơng tối thiểu chung từ 290.000 đồng/ tháng theo quy định tại điều khoản 2 Điều 1 Nghị định 203/2004/NĐ-CP,ngày14/12/2004 của Chính phủ quy định mức lơng tối thiểu lên 350.000 đồng/tháng. -Việc điều chỉnh mức lơng tối thiểu( thấp nhất 350.000 đồng /tháng và để mở mức lơng trần,trừ khu vực doanh nghiệp Nhà nớc) đã tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp chủ động và linh hoạt hơn trong việc trả lơng cho ngời lao động. -Tiết kiệm 10% chi thờng xuyên(trừ tiền lơng và các khoản có tính chất lơng) đối với từng cơ quan hành chính,từng đơn vị sự nghiệp thuộc các Bộ,cơ quan Trung ơng và các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ơng. -Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu sử dụng tối thiểu 40% số thu đợc để lại theo chế độ.Riêng các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu đợc để lại theo chế độ ( sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hoá chất). - Sử dụng tối thiểu 40% số thu để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính có thu. Sử dụng 50% số tăng thu ngân sách địa phơng. - Kinh phí thực hiện điều chỉnh mức lơng tối thiểu chung đối với các đối tợng làm việc trong các doanh nghiệp do doanh nghiệp bảo đảm và đợc hạch toán vào giá thành hoặc chi phí kinh doanh. 2. Tồn tại 12 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 - Hiện nay, cơ chế tiền lơng còn tồn tại rất nhiều những bất cập: +Đó là cha có sự phân biệt giữa tiền lơng tối thiểu của các doanh nghiệp với tiền lơng tối thiểu áp dụng cho cán bộ, công chức. Trong suốt thời gian qua Nhà nớc mới chỉ quy định chung một mức lơng tối thiểu đối với tất cả mọi đối tợng ( trừ lao động làm việc cho các doanh nghiệp FDI), cha đặt trong mối quan hệ tổng thể vĩ mô khác nh: Giá cả hàng hoá, sự phát triển của năng suất lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Việc quy định mức tiền lơng tối thiểu chung chỉ có ý nghĩa đối với việc trả lơng từ ngân sách Nhà nớc, việc đóng và hởng chế độ BHXH chứ cha phải là công cụ giup cho việc hình thành đúng chi phí tiền lơng trong sản xuất kinh doanh bởi vì tiền lơng ở khu vực này phụ thuộc vào năng suất lao động và lợi nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc quy định áp dụng thống nhất mức tiền lơng tối thiểu trong khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp mang tính dịch vụ công. Chính sự đồng nhất này đã là nguyên nhân làm giảm tính linh hoạt của tiền lơng trong cơ chế thị trờng. Nhiều doanh nghiệp đang trở nên bị động, phải liên tục chạy theo sự điều chỉnh của Nhà nớc về mức tiền lơng tối thiểu. Trong khi đó, việc điều chỉnh này chỉ với mục đích tăng lơng trong khu vực hành chính sự nghiệp. +Việc xây dựng mức lơng tối thiểu gắn với quá nhiều mục tiêu xã hội nh : làm căn cứ để quy định chế độ phụ cấp sinh hoạt phí đối với hạ sĩ quan, binh sĩ, chế độ BHXH, chế độ u đãi đối với ngời có công,làm cho tiền lơng tối thiểu trở thành công cụ kiểm soát mức chi tiêu xã hội hơn là công cụ để đảm bảo cuộc sống cho các đối tợng này. Vì vậy, mỗi khi Nhà nớc điều chỉnh nâng mức lơng tối thiểu chung đều phảI tăng lơng, tăng trợ cấp và sinh hoạt phí đối với tất cả các đối tợng hởng lơng và trợ cấp từ ngân sách Nhà nớc, trong khi khả năng ngân sách có hạn và đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra khó khăn trong việc tiếp tục cải cách chính sách tiền lơng. Điều đó đã dẫn đến việc đặt tiền lơng ra khỏi guồng máy sản xuất xã hội, tiền lơng cha đợc coi là động lực để phát huy kết quả sản xuất, hiệu quả công việc và tăng năng suất lao động. Tiền lơng tối thiểu tơng đối thấp đã bị duy trì quá lâu, làm mất tác dụng tích cực của chế độ tiền lơng, không còn kích thích ngời lao động gắn bó với nghề nghiệp của mình. T tởng Phân phối TLTT căn cứ vào ngân sách Nhà nớc đã bao trùm cả khu vực sản xuất, kinh doanh (đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nớc ), do vậy đã biến tiền lơng thành yếu tố đơn thuần của phạm trù phân phối và tách rời các căn cứ của nó là trình độ phát triển sản xuất, năng suất lao động, các lợi thế cạnh tranh, dẫn đến không khuyến khích việc sử dụng lao động giữa các khu vực.ý nghĩa quan trọng là chi phí tiền lơng thực chất là đầu t cho nguồn nhân lực cha đợc quán triệt. - Trong điều kiện nớc ta hiện nay thì mục tiêu đề ra về mức lơng tối thiểu để đảm bảo tái sản xuất giản đơn và một phân để tái sản xuất mở rộng là tơng đối cao và do đó thực tế hiệu quả đạt đợc còn thấp. Đợt tăng mức lơng tối thiểu gần đây nhất từ: 290000đ/ tháng lên 350000đ/ tháng áp dụng từ 01/ 10/ 2005 đã phần nào phù hợp với những thay đổi về kinh tế- xã hội. Nhng đời sống của ngời lao động không đợc cảI thiện là bao bởi vì giá cả hàng hoá cũng tăng theo. - Phơng pháp xác định mức TLTT hiện nay vẫn dựa trên kết quả là mức bình quân của các cách tiếp cận khác nhau ( nhu cầu tối thiểu của ngời lao động có 13 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 nuôI con, khả năng của nền kinh tế, điều tra tiền công và thu nhập, mức tiền công tối thiểu thực tế đang trả cho ngời lao động, mức độ trợt giá sinh hoạt,) nên đã bình quân hoá cả 3 yếu tố trong lơng, đó là : Giá cả sinh hoạt, nhu cầu và tập quán tiêu dùng theo vùng và chênh lệch. TLTT đã hình thành trên thị trờng lao động giữa các vùng. Kết quả điều tra năm 1990 đã cho thấy rõ mức chênh lệch về tiền lơng tối thiểu đã hình thành giữa các vùng lên 1,6 lần. Các luận cứ cho việc xây dựng và áp dụng mức lơng tối thiểu theo vùng, theo ngành, theo giờ đối với các thành phần kinh tế còn thiếu và cha sát thực tế. Chính sự khác nhau của mức lơng tối thiểu giữa các khu vực theo loại hình doanh nghiệp đã tạo ra mặt bằng tiền công khác nhau trên một thị trờng lao động cũng dẫn tới hiện tợng cạnh tranh không bình dẳng giữa các doanh nghiệp. Phạm vi áp dụng các mức TLTT chung, vùng, ngành chủ yếu mới thực hiện đối lực lợng lao động trong khu vực Nhà nớc và các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (chiếm khoảng 10% tổng số ), trong khi đó, khu vực phi chính quy nơi thu hút phần đông lực lơng lao động xã hội lại không áp dụng tiền lơng tối thiểu, vì vậy, tác dụng của TLTT còn rất hạn chế đặc biệt là đối với khu vực cần đợc bảo vệ và vai trò lới an toàn chung cho cả xã hội của TLTT dờng nh cha đạt yêu cầu do phạm vi áp dụng quá nhỏ và cha thực sự hớng vào khu vực có nhiều đối tợng yếu thế trong thị trờng. -Việc quản lý TLTT cho đến nay cha đến nay vẫn còn mang năng tính hành chính, cha tạo điều kiện cho sự tham gia của các bên có liên quan ( giới chủ và ngời lao động đại diện là công đoàn). Mặt khác, công tác thanh tra, giám sát việc thực hiện các mức TLTT ở nớc ta hiện nay có thể nói, vừa lỏng lẻo, lại vừa cứng nhắc. IV. Chính sách, chế độ tiền lơng và các quỹ trích theo lơng của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay. 1.Quan điểm cải cách thang lơng, bảng lơng, phụ cấp lơng: _Hệ thống thang lơng, bảng lơng và các khoản phụ cấp lơng có vai trò rất quan trọng đối với công tác và đời sống của cán bộ công chức viên chức. Nó chính là động lực chủ yếu, đòn bẩy mạnh mẽ trong điều kiện hiện nay để nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và khuyến khích mọi ngời làm việc có năng suất chất lợng cao, phát huy sáng kiến, cảI tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ mọi mặt của ngời lao động. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự trở thành động lực chủ yếu, là đòn bẩy mạnh mẽ khi hệ thống thang lơng, bảng lơng, và phụ cấp lơng sẽ rất mờ nhạt, khiến cho ngời lao động có tâm lý chân ngoài dài hơn chân trong, dựa dẫm vào lơng của cơ quan, doanh nghiệp để làm các việc khác, khiến cho thu nhập ngoài lơng cao hơn thu nhập trong lơng, gây ra hiện tợng tiêu cực trong xã hội, trong cơ quan, trong doanh nghiệp. Thang lơng, bảng lơng và phụ cấp lơng có mối quan hệ chặt chẽ với các chế độ, chính sách do Nhà nớc ban hành, đặc biệt là các chế độ chính sách liên quan đến công tác và đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, các chế độ, chính sách về BHXH, BHYT, thuế thu nhập, chúng là một trong những cơ sở quan trọng của chế độ chính sách này, chúng là điều thờng đợc xem xét khi giải quyết các chế độ liên quan đến đất đai, nhà ở, đi lại, học tập, bổ nhiệm luân 14 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 chuyển cán bộ Ngợc lại mỗi khi các chế độ, chính sách nhất là về giá cả, tiền tệ thay đổi đáng kể thi thang lơng, bảng lơng và phụ cấp lơng cần phảI thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp. _Thang lơng, bảng lơng và phụ cấp lơng phải góp phần vào việc trả lơng theo tính chất lao động và trình độ lao động: Để trả lơng đúng đắn cần phải căn cứ vào số lợng và chất lợng lao động của ngời lao động đã đóng góp cho tổ chức cá nhân. Số lợng lao động và chất lợng lao động liên quan với nhau một cách mật thiết và là hai mặt của một thể thống nhất nhng cách thể hiện, đánh giá lại khác nhau. Số lợng lao động thể hiện ở thời gian lao động đã hao phí, còn chất lợng lao động thể hiện ở trình độ lành nghề của ngời lao động và một phần thể hiện ở điều kiện lao động và một số nhân tố khác. Muốn đánh giá đúng chất lợng lao động cần phải tính đổi lao động phức tạp thành lao động giản đơn, xem lao động đó gấp bao nhiêu lần lao động giản đơn. Các Mác đã chỉ rõ lao động phức tạp chỉ là bội số của lao động giản đơn hay nói đúng hơn là lao động giản đơn nhân bội lên, thành thử số lợng lao động phức tạp nào đó có thể tơng đơng với một số lợng lao động giản đơn. Việc tính đổi lao động phức tạp thành lao động giản đơn, trong tổ chức tiền lơng đợc thực hiện thông qua các thang lơng, bảng lơng và phụ cấp. Thang lơng, bảng lơng chỉ rõ một ngời lao động ở bậc nào đó của thang lơng, bảng lơng ấy có trình độ phức tạp (trình độ chuyên môn) cao hơn ngời lao động ở bậc một của thang lơng, bảng lơng ấy, hoặc so với bảng lơng tối thiểu bao nhiêu lần. Từ đó, thang, bảng lơng góp phần khuyến khích ngời lao động tích cực học tập và tích luỹ kinh nghiệm để đợc nâng bậc lơng ngày càng cao hơn so với ngời hởng lơng tối thiểu. _Thang lơng, bảng lơng và phụ cấp lơng phải đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa các ngành nghề, lĩnh vực , giữa ngời lãnh đạo và ngời bị lãnh đạo làm công tác chuyên môn nghiệp vụ góp phần điều tiết lao động, khuyến khích ngời lao động đến làm việc ở những nơi cần khuyến khích, thu hút lao động: Thang lơng, bảng lơng mới phải bảo đảm mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa các ngành nghề, lĩnh vực và mối quan hệ giữa ngời lãnh đạo, quản lý và ngời bị lãnh đạo làm công tác chuyên môn, nghiệp vụTrong một thang l ơng, bảng lơng nào đó. Ngoài ra trong thực tế, rất nhiều ngời lao động cùng hởng lơng trong một thang lơng, bảng lơng lại phải thực hiện công việc ở nhiều nơi, nhiều vùng trong nớc với điều kiện lao động và điều kiện tự nhiên rất khác nhau, nhất là về khí hậu, đi lại khó khăn trong cuộc sống; hoặc làm công việc thờng xuyên phải lu động, họ phải chi phí nhiều trong cuộc sống và chi phí xã hội khác.Để thu hút lao động đến những nơi đó cũng nh để khuyến khích nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc và bù đắp những chi phí phát sinh, cần phải có những phụ cấp lơng bổ sung khác. Cần có những phụ cấp để khuyến khích ngời lao động làm việc ở những ngành nghề những vùng, những nơi khó khăn , vất vả, nguy hiểm nhằm thu hút lao động đến làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó.Các phụ cấp muốn phát huy vai trò, tác dụng, cần phải có độ lớn phù hợp. Nếu ít quá sẽ không khuyến khích, nếu nhiều quá sẽ làm tăng quỹ tiền lơng, gây ra triệt tiêu các phụ cấp 15 Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 khác có mức ít hơn.Và cũng thông qua đó dùng nó làm công cụ để khuyến khích ngời lao động nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật.Từ đó làm tốt công việc và làm việc với năng suất lao động ngày càng cao, chất lợng công việc ngày càng tốt. _Hệ thống thang lơng, bảng lơng và phụ cấp lơng phải đợc thiết kế đơn giản, dễ hiểu, tránh trùng lắp và có sự phân biệt rtõ ràng giữa các bậc, các loại. Muốn vậy, từ nhiều thang lơng, bảng lơngvà phụ cấp lơng hiện nay với sự phân biệt cha đáng kể , cần thu gọn thành một số thang lơng, bảng lơng và phụ cấp cần thiết, có sự phân biệt và có đủ độ lớn, vừa có tác dụng khuyến khích lao động, và có tác dụng sắp xếp ,chuyển đổ từ các thang, bảng lơng cũ sang các thang, bảng lơng và phụ cấp mới khi cải tiến lơng. _Thang lơng, bảng lơng và phụ cấp cần đợc áp dụng đúng trong lĩnh vực quản lý Nhà nớc, lực lợng vũ trang và đợc tham khảo vận dụng ở các lĩnh vực khác. Lĩnh vực hành chính Nhà nớc ( bao gồm cả công chức chuyên môn cơ sở), Đảng và đoàn thể ,toà án, kiểm soát, thanh tra, kiểm tra cần đ ợc thực hiên nghiêm chỉnh đúng các hệ số đã quy định: các lĩnh vực khác tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể thực hiện đúng hoắc có thể than khảo các hệ số đã quy định để có thể áp dụng linh hoạt ở các lĩnh vực sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nớc và ở các khu vực khác. 2. Mục đích chính sách cải cách tiền lơng của Đảng và Nhà nớc. Chính sách tiền lơng là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nớc, vì vậy nó có ảnh hởn rất lớn đến nền kinh tế xã hội, khai thác khả năng của ngời lao động. Nh việc định ra các mức lơng cho LĐTG với lao động có trình độ chuyên môn cao-kĩ thuật cao và giữ các vị trí chủ chốt thờng đợc trả với mức lơng cao hơn nhiều so với lao động cùng loại.Việc trả lơng cao cho loại lao động này một mặt khuyến khích họ làm việc lâu dài với doanh nghiệp,mặt khác ,để bù dắp cho tính không ổn địnhcủa các chỗ làm việc đó.Ngoài ra,do nhiều lao động LĐTG là ngời thân trong gia đình hoặc hoặc bạn bè của ngời sử dụng lao động,việc trả lơngcao hơn so với mức giá cân bằng đối với họ có tác động tao sự rằng buộc chặt chẽ về tình cảm với NSLĐ ,qua đó có tác động tốt hơn về công việc. Chế độ cải cách tiền lơng từ năm 1993 đến nay có vị thế cực kỳ quan trọng, nó đặt cơ sở cho việc đổi mới, hình thành quan hệ lao động mới, hình thành tiền lơng, tiền công trên thị trờng lao động, tạo điều kiện phát triển các yếu tố để chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng. Mức tiền lơng tối thiểu đã đợc luật hoá: quan hệ tiền lơng ( hệ thống thang lơng , bảng lơng )đợc mở rộng khắc phục một bớc cơ bảnvề tính bình quân trong lơng. Cơ chế quản lý tiền lơng, nhất là khu vực kinh doanh thông thoáng hơn, gắn với kinh tế thị trờng. Trong một vài năm đầu ( sau cải cách tiền lơng năm 1993), tiền lơng thục tế đã đợc nâng lên đời sống ngời hởng lơng nghỉ hu và các đối tợng chính sách đợc cải tiến rõ rệt.Bớc đầu đã xắp xếp đội ngũ công chức vào đúng ngạch lơng theo trình độ, gắn liền với các chức danh tiêu chuẩn, thực hiện việc thi tuyển, thi nâng ngạchtừng bớc đa việc quản lý biên chế, quỹ lơng vào nề nếp tạo điều kiện cho việc cải cách hành chính, nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công chức. 16

No comments:

Post a Comment