Wednesday, March 16, 2016
236442
- Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn trên 150 cm, phân bố rãi rác ở các xã
Tân An Thạnh, Tân Hưng, Nguyễn Văn Thảnh.
Nhóm 3 : Nhóm đất phèn phát triển được chia ra 2 nhóm phụ :
- Đất phèn phát triển có tầng sinh phèn từ 50 – 80 cm, phân bố tập trung ở các
xã Nguyễn Văn Thảnh, Mỹ Thuận và một ít ở Tân Hưng.
- Đất phèn phát triển có tầng sinh phèn từ 80 – 120 cm, phân bố ở các xã Tân
Hưng, Tân Thành và Thành Trung.
2.1.3. Địa hình
Nhìn chung địa hình của huyện khá bằng phẳng, cùng với sự chi phối của thủy
triều cường trên sông là yếu tố thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông
nghiệp. Địa hình của huyện được chia thành 3 tiểu vùng :
- Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,7 m phân bố ở các xã Tân Hưng, Tân Thành,
Thành Trung và Nguyễn Văn Thảnh.
- Vùng có cao trình từ 0,7 – 1,0 m phân bố ở các xã Thành Đông, Mỹ Thuận.
- Vùng có cao trình từ 1,0 - 1,25 m phân bố ở các xã Thành Lợi, Tân Quới,
Tân Bình, Tân Lược.
2.1.4. Địa chất công trình, địa chất thủy văn
Do đặc điềm lịch sử, đất đai huyện Bình Tân thuộc nhóm đất phù sa trẻ, quá
trình hình thành do sự bồi lắng và tích tụ ven sông nên nền địa chất công trình yếu,
hiện nay vẫn chưa nghiên cứu một cách toàn diện và chưa xây dựng được bản đồ địa
chất công trình. Trong thực tế việc đánh giá nền địa chất công trình chỉ được nghiên
cứu một cách cục bộ ở những công trình lớn.
2.1.5. Khí hậu-Thời tiết
- Bình Tân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết trong năm chia
thành 2 mùa rõ riệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 năm trước
đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm
- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25 – 28 0C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
36,70C và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 180C nhưng thời gian duy trì ở các mức độ này
không dài và không ảnh hưởng nhiều đến cây trồng.
- Tổng lượng mưa của huyện chỉ ở mức độ trung bình đạt từ 1.500 – 1.600
mm/năm. Tuy nhiên do nằm ven sông Hậu nên vào tháng 9 – 10 dương lịch hàng
11
năm các cơn mưa kết hợp với triều cường dễ tạo ra các đợt lũ gây ảnh hưởng lớn đến
sinh hoạt cũng như sản xuất, đặc biệt là đối với các xã ven sông Hậu.
2.1.6. Thủy văn
- Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biển Đông, có vị trí
nằm ven sông Hậu, cùng với mạng lưới sông ngòi phân bố đều khắp các xã, có hệ
thống thủy lợi được đầu tư tốt đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nước
trong sản xuất và sinh hoạt. Mặt khác, với đặc điểm nằm trong vùng nước ngọt quanh
năm, đây là một trong những lợi thế để Bình Tân có thể khai thác nguồn nước mặt
đối với phát triển thủy sản cũng như trồng trọt – chăn nuôi.
- Tuy nhiên do có vị trí nằm dọc theo tuyến sông Hậu nên vào những tháng
mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 11) phần lớn diện tích các xã như Tân Lược, Tân Quới,
Thành Lợi của huyện thường bị ngập lũ vào giai đoạn cuối tháng 9 đầu tháng 10, gây
nhiều thiệt hại đối với sản xuất của huyện.
Thực trạng môi trường huyện
- Nhìn chung hiện trạng chất lượng môi trường nước ở nông thôn hiện nay trên
địa bàn tỉnh nói chung và huyện Bình Tân nói riêng đang bị tác động bởi vấn đề vệ
sinh và mội trường. Nguyên nhân chính là do người dân vẫn còn thói quen thải rác
sinh hoạt và các chất thải trong chăn nuôi trên sông rạch. Đặc biệt trong sản xuất
nông nghiệp, việc sử dụng tùy tiện các loại thuốc bảo vệ thực vật đã dần đến hậu quả
là nước bị phú dưỡng hóa nhanh chóng, làm thiệt hại đến hệ sinh thái thủy vực, giảm
đi lượng thủy sản tự nhiên tại các vùng sử dụng nhiều phân bón hóa học. Mặt khác
thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi làm chết các phiêu sinh động thực vật, làm giảm
đáng kể nguồn thức ăn chính cho thủy sản trong tự nhiên.
- Hầu hết tất cả các nước thải từ các khu dân cư, chợ, cơ sở sản xuất,…đều thải
trực tiếp ra sông ngòi, kênh rạch mà không có bất kỳ biện pháp thu gom hay xử lý
hữu hiệu nào. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên địa
bàn huyện.
- Riêng về hiện trạng chất lượng không khí và tiếng ồn cho đến nay vẫn chưa
được nghiên cứu sâu và thường xuyên. Theo kết quả khảo sát và quan trắc ở một số
khu vực cho thấy đối với khu vực nông thôn chưa bị ô nhiễm, ngoại trừ một số vùng
nằm ven trục giao thông hoặc ở các trung tâm đầu mối ở các xã đã có dấu hiệu ô
nhiễm bụi và tiếng ồn.
12
- Đối với môi trường đất hiện tại chưa có một thống kê khảo sát nào về hiện
tượng ô nhiễm môi trường đất. Tuy nhiên với thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật và phân bón với số lượng lớn trong sản xuất nông nghiệp đang làm cho môi
trường đất trở nên chai cứng, nghèo mùn, suy giảm số lượng loài thực vật và động
vật bậc thấp…
- Hơn nữa, trong thời gian qua do diễn biến phức tạp về khí tượng thủy văn bởi
các hiện tượng El Nino và La Nino đã gây ra các đợt nắng nóng gay gắt, thời gian
nắng kéo dài, dẫn đến tình trạng khô hạn. Do nền địa chất công trình yếu và do tình
trạng xây dựng cơ bản, khai thác nguồn tài nguyên trên sông một cách tự phát đã làm
thay đổi dòng chảy, dẫn đến hiện tượng sạt lở ven sông.
2.2. Điều kiện kinh tế
2.2.1. Sản xuất Nông nghiệp
- Huyện Bình Tân chủ yếu là sản xuất hoa màu như: trồng khoai lang, trồng
bắp. Hoa màu dần thay thế cây lúa. Các xã Tân Thành, Thành Đông và Thành Trung,
Tân Hưng có diện tích màu nhiều nhất. Khi lũ vừa rút là lúc bà con chuẩn bị đất
xuống giống trồng màu. Vào cuối tháng 12, hoa màu vụ Xuân Hè phủ khắp đồng,
một màu xanh bạt ngàn trải dài từ kinh Xã Khánh đến kinh Hai Quý. Khoai lang, bắp,
đậu mè, dưa hấu… được trồng nhiều nhất nơi đây. Bình Tân có các loại khoai lang
nổi tiếng như bí đỏ, tàu ngạn, dương ngọc, lang sữa, tím Nhật... đang có giá bán ổn
định. Nhiều mô hình sản xuất đã đem lại thu nhập đáng kể cho dân nghèo, đặc biệt là
mô hình 2 vụ màu - 1 vụ lúa, mô hình thủy sản, trồng màu trong mùa lũ đạt thu nhập
từ 50 đến 70 triệu đồng/ha/năm.
- Huyện Bình Tân còn có mạng lưới sông chằng chịt, thuận lợi cho việc vận
chuyển hàng hóa và một số hộ thì nuôi trồng thêm thủy sản để tăng thêm thu nhập.
2.2.2. Sản xuất Công nghiệp-Tiểu thủ Công nghiệp
- Với đặc điểm là huyện nằm cạnh TP Cần Thơ và khu công nghiệp Trà Nóc,
do đó huyện có đủ khả năng cạnh tranh về phát triển công nghiệp, huyện đang quy
hoạch cụm tuyến công nghiệp Tân Quới với diện tích khoảng 39,20 ha, nằm cách
trung tâm huyện khoảng 1,5 km, phục vụ cho phát triển các ngành nghề như: công
nghiệp chế biến thủy sản, tái chế, đóng gói,… và quy hoạch thị trấn Tân Quới. Huyện
đang đầu tư các nhà máy vệ tinh để liên kết với khu công nghiệp Trà Nóc hiện có.
13
Huyện có lợi thế về nguồn nguyên liệu sẵn có (rau quả) để phát triển và xây dựng nhà
máy chế biến rau quả xuất khẩu.
- Ngoài ra, ở huyện Bình Tân các ngành nghề truyền thống vẫn giữ vững danh
tiếng và ổn định sản xuất như: nghề sản xuất nước chấm Thành Lợi, chế biến thực
phẩm ở Tân Quới, nghề mộc, cơ khí phục vụ nông nghiệp.
2.2.3. Thương mại-Dịch vụ
- Khá phát triển với sự mở rộng các chợ Tân Quới, Tân Lược. Toàn huyện có
3.784 cơ sở kinh doanh thương mại – du lịch – khách sạn – nhà hàng, trong đó có 19
cơ sở kinh doanh doanh nghiệp tư nhân và 3.765 cơ sở kinh doanh cá thể, thu hút
7.321 người lao động.
- Các loại hình dịch vụ của huyện bao gồm: dịch vụ thương mại, dịch vụ tài
chính ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, các dịch
vụ sửa chữa phục vụ sản xuất nông nghiệp – công nghiệp và tiêu dùng cũng tương
đối hoàn chỉnh và đáp ứng được nhu cầu của địa phương.
- Về du lịch, với lợi thế là vùng chuyên sản xuất khoai lang, rau màu và đặc
biệt có vị trí nằm cạnh huyện Bình Minh (vùng có vườn cây ăn trái đặc sản-người
dân có kinh nghiệm trong việc sản xuất cây ăn trái nổi tiếng) và nằm cạnh thành phố
Cần Thơ là điều kiện thuận lợi để Bình Tân có thể liên kết với các khu du lịch Cần
Thơ, các tỉnh lân cận để khai thác mô hình du lịch trên sông.
2.3. Điều kiện xã hội
2.3.1. Dân số
- Theo Niên giám thống kê năm 2008 - Phòng Thống kê huyện Bình Tân thì toàn
huyện có 19.690 hộ với 93.679 người (trong đó nữ là 48.167 người). Số dân sinh
sống chủ yếu ở khu vực nông thôn. Mật độ dân số huyện là 612 người/km2.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,025%. Dân số huyện Bình Tân là một cộng đồng
các dân tộc, người Kinh, người Khơ Me, người Hoa… Các dân tộc luôn có truyền
thống đoàn kết với nhau trong quá trình lịch sử khai phá, xây dựng, cùng nhau chống
thiên tai, ác thú và giặc ngoại xâm. Ngày nay, trong thành phần cộng đồng dân tộc ở
huyện thì người Kinh chiếm đa số, kế đến là người Hoa, người Khơ Me và các dân
tộc khác. Tổng số người Kinh 93.224 người (chiếm 99,51%); người Hoa 257 người
14
(chiếm 0,27%); người Khơ Me 157 người (chiếm 0,17%); các dân tộc khác 32 người
(chiếm 0,03%).
2.3.2. Lao động
- Nhìn chung về cấu trúc dân số dân số của huyện Bình Tân là cấu trúc trẻ.
Qua đó cho thấy về tiềm năng lao động là rất lớn.
- Về chất lượng lao động : mặc dù tỷ lệ dân số có trình độ đại học, cao đẳng
của huyện chiếm không cao nhưng người dân Bình Tân có kinh nghiệm trong sản
xuất, khả năng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tạo
ra được những sản phẩm nổi tiếng như rau thực phẩm an toàn, khoai lang,…
2.3.3. Các lĩnh vực Văn hóa, Xã hội, Y tế, Giáo dục, An ninh - Quốc
phòng
- Bệnh viện, trung tâm văn hoá, TDTT, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo
dục thường xuyên… nhưng địa phương đã biết phát huy và tập trung khai thác có
hiệu quả các hoạt động văn hoá, TDTT, y tế, giáo dục… ở cơ sở, phục vụ kịp nhu cầu
về tinh thần của nhân dân, thúc đẩy hoạt động kinh tế-xã hội của huyện được phát
triển.
- An ninh – Quốc phòng: đã được ổn định và giữ vững, thực hiện liên tịch trách
nhiệm với các quận Ninh Kiều, Bình Thuỷ, Ô Môn thuộc Cần Thơ, huyện Lai Vung,
Châu thành tỉnh Đồng tháp và huyện Bình Minh, Tam Bình tỉnh Vĩnh Long, tập trung
cho công tác giữ gìn an ninh trật tự, nhất là các vùng giáp ranh. Phát động phong trào
toàn dân tham gia phòng chống tội phạm có hiệu quả trên địa bàn, tạo điều kiện tốt cho
nhân dân yên tâm phát triển.
2.3.4. Cơ sở hạ tầng
- Những năm trước khi tách huyện, cơ sở hạ tầng ở Bình Tân còn rất hạn chế.
Vào mùa lũ, việc đi lại bằng đường bộ rất khó khăn do đường sá bị ngập, hầu như
trong mùa nước nổi dân đi bằng xuồng, ghe là chính. Từ thị trấn Cái Vồn muốn đến
Bắc Bình Minh hoặc từ xã này qua xã khác thì phương tiện duy nhất là đò và xuồng,
mất nhiều giờ mới tới nơi. Đường điện chỉ đến trung tâm một số xã, dân đa số nghèo,
lo cái ăn cái mặt đã khó, lo điện thấp sáng lại càng khó hơn.
- Sau khi tách huyện, Bình Tân được tỉnh và trung ương đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng. Năm 2000, quốc lộ 53 được nâng cấp tạo thuận lợi giao thông giữa trung tâm
huyện với nội vùng và tạo đà phát triển giao thông nông thôn nơi đây. Đường tỉnh
15
908 và đường 857 cũng được xây dựng. Các xã đều có điện trung thế, trường tiểu
học, trạm xá, trong đó có xã Tân Thành có bệnh viện khu vực. Đời sống văn hoá, tinh
thần của nhân dân trong vùng được cải thiện rõ rệt. Chương trình cụm, tuyến dân cư
vùng lũ đang được thực hiện để giúp cho dân vùng lũ có nơi ở ổn định. Đến nay các
xã Nguyễn Văn Thảnh, Tân An Thạnh, Thành Trung có tuyến dân cư hoàn thành và
có dân vào ở. Vào mùa lũ có thể đi mô tô theo các tuyến đường nối với quốc lộ 53
hoặc theo đường tỉnh 908 tương đối dễ dàng.
- Năm 2008, tỉnh Vĩnh Long quyết định đầu tư gần 140 tỉ đồng xây dựng
Bệnh viện đa khoa huyện Bình Tân tại ấp Thành Nhân, xã Thành Lợi. Bệnh viện
được xây dựng trên diện tích 16.000m2 với quy mô 100 giường bệnh, gồm các khoa
điều trị nội - y học cổ truyền: 34 giường; ngoại: 22 giường; phụ sản: 14 giường; nhi:
12 giường; răng hàm mặt - tai mũi họng, mắt: 6 giường; truyền nhiễm: 6 giường và
cấp cứu, hồi sức: 6 giường. Dự kiến năm 2011 công trình sẽ hoàn thành và đưa vào
sử dụng.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tình hình quản lý, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai trên địa bàn huyện
Bình Tân
Hiện nay, công tác cập nhật, chỉnh lý biến động trên hồ sơ địa chính như: trên
bản đồ, sổ bộ địa chính đã thực hiện đồng bộ và thống nhất. Việc triển khai cập nhật
16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment