Sunday, March 20, 2016

Những biến đổi của nguồn nước ngầm do tác động của các hoạt động kinh tế kỹ thuật

Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn - Sông Trường Đay với chiều dài khoảng 2km, bắt đđầu từ cầu Trường Đay đđến ngã ba Bến Phân. Nước đđược phân lưu, một phần chảy về sông Bến Cát, một phần chảy về hướng Tây Nam, đổ về rạch Chợ Mới. Chiều rộng sông từ 20 - 30m, sâu từ 2,5-3m, hoạt động theo chế độ bán nhật triều. - Kênh Tham Lương là kênh được nối dài từ rạch Chợ Mới theo hướng nam chảy vào sông Cầu Xám – Bình Chánh. Trên diện tích của Quận Gò Vấp còn có một số hồ nhỏ, tuy nhiên quy mô không đáng kể. * Hệ thống sông ngòi ngoại vi: Hệ thống sông ngòi ngoại vi khu vực Gò Vấp chủ yếu là hệ thống sông Sài Gòn nằm ở phía đông chảy theo hướng Bắc - Nam, đổ về phía Nam thành phố. Các con sông lớn của miền Đông Nam Bộ, như sông Đồng Nai và sông Vàm cỏ Đông nằm khá xa khu vực quận (khoảng 4 - 5km) nên không ảnh hưởng điều kiện đòa chất thuỷ văn khu vực quận Gò Vấp. Bề rộng sông Sài Gòn từ 250 - 350m, sâu từ 10 - 20m, tàu thuyền đi lại dễ dàng. Lưu lượng dòng chảy lớn nhất từ 84 - 93m 3/s, nhỏ nhất từ 20 - 25m3/s. Độ cao mực nước từ -0, 34m đến +1,18m (tại Bình Dương). Sông Sài Gòn hoạt động theo chế độ bán nhật triều, một ngày lên xuống 2 lần, biên độ thuỷ triều dao động từ 1,5 - 3,1m. Sông Sài Gòn cũng đóng vai trò trong sự hình thành trữ lượng khai thác tầng chứa nước Pleistocen. 1.7/ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, XÃ HỘI: 1.7.1) Dân số: - Quận Gò Vấp có 16 phường, tổng diện tích tự nhiên toàn quận là 19,74 km 2. Huyện Hóc Môn gồm 10 xã với tổng diện tích tự nhiên là 109,18 km 2. Do quá trình đô thò hóa nhanh nên có tỷ lệ tăng dân số nhanh trong giai đọan 2001-2003. Bước sang giai đọan 2004-2006 tỷ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể. GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 11 Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn Bảng 1.4: Tình hình tăng dân số quận Gò Vấp và huyện Hóc Môn từ năm 1999 - 2006 Năm Quận Gò Vấp Huyện Hóc Môn Năm 2000 331.266 207.591 Năm 2001 345.420 210.358 Năm 2002 372.593 214.952 Năm 2003 412.802 220.337 Năm 2004 443.419 Năm 2005 468.468 Năm 2006 478.033 (Nguồn Cục thống kê TP.HCM) 1.7.2) Kinh tế: a) Về công nghiệp: Sản phẩm chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp như dệt, may, thêu, da. Các mặt hàng nước chấm, nước giải khát đang là thế mạnh của ngành sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm của quận. Ngoài ra, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như chiếu, mành trúc, sơn mài... của Gò Vấp cũng khá nổi tiếng trên thò trường. b) Về thương mại – dòch vụ: Quận có các chợ và các khu phố thương mại lớn như khu thương mại chợ Gò Vấp, khu phố chợ Tân Sơn Nhất, khu thương mại Hạnh Thông Tây, khu thương mại dòch vụ An Lộc. c) Về du lòch: Khu vực nghiên cứu có nhiều làng hoa, nhà vườn kinh doanh dich vụ du lòch và nhiều làng nghề. 1.7.3 Cơ sở hạ tầng: GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 12 Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn a) Cấp điện: - Hóc Môn : Đến nay đã có 100% xã, thò trấn được cấp điện từ mạng lưới điện quốc gia theo giá qui đònh nhà nước, 99,2 % số hộ nông thôn đang sử dụng điện, đây là thành tích nổi bật cả nước. - Gò Vấp : Nguồn cung cấp điện cho khu vực là các trạm biến điện nguồn của lưới truyền tải điện quốc gia. Khác với một số quận, lưới phân phối ở quận Gò Vấp chỉ có một cấp điện thế 15KV.Đây là một thuận lợi lớn cho việc quản lý vận hành và phát triển lưới điện. b) Cấp nước: - Hóc Môn : chương trình sử dụng nước sạch nông thôn ở Thành phố được triển khai từ năm 1997. Do đặc điểm của khu vực nghiên cứu là dân cư phân tán trên đòa bàn rộng nên hệ thống cấp nước của thành phố hầu như không có. Để khắc phục tình trạng này thành phố đã dành nguồn vốn ngân sách (chiếm chủ yếu trong các nguồn vốn ) để phát triển giếng lẻ bơm tay và đặc biệt là các trạm cấp nước tập trung ở các khu dân cư tập trung. Hiện nay trên đòa bàn huyện Hóc Môn có 13 trạm cấp nước tập trung với công suất khoảng 3.000 m 3/ngày đêm do Trung tâm Nước Sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý . Theo thống kê năm 2006 nguồn nước sử dụng ở nông thôn như sau: - Số hộ dân sử dụng nước sạch : 87,5 % (toàn thành là 97.1%) - Sử dụng nước máy : 25,53 % số hộ - Sử dụng nước giếng : 60,7 % số hộ - Sử dụng nước mưa : 3,08 % số hộ - Sử dụng nguồn nước khác : 3,69 % số hộ GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 13 Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn - Gò Vấp : Nước từ hệ thống cấp nước thành phố có chất lượng tốt nhưng rất hạn chế. Nước từ các giếng khoan ngầm được sử dụng rộng rãi nhờ dễ khai thác và chi phí thấp nhưng thường không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép sử dụng. GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 14 Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU VỰC NGHIÊN CỨU Khu vực Gò Vấp – Hóc Môn nằm trong TP.HCM. Do đó, lòch sử nghiên cứu ĐC và ĐCTV, đặc điểm ĐC-ĐCTV của quận gắn liền với của thành phố. 2.1/ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA CHẤT THỦY VĂN: Dựa vào mức độ, mục đích và thời gian nghiên cứu có thể chia thành hai giai đọan chính sau: 2.1.1) Giai đọan trước năm 1975: Giai đoạn này có thời gian lòch sử kéo dài trên một nửa thế kỷ trong hoàn cảnh thành phố nằm dươí sự kiểm soát của các chế độ thực dân cũ và mới. Sự nghiệp nghiên cứu ĐCTV được các chuyên gia người Pháp thực hiện đầu tiên gắn liền với việc nghiên cứu đòa chất, khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở vật chất. Tiếp sau đó còn có sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài khác (Mỹ, Nhật) và các tác giả Việt Nam. Công trình nghiên cứu đầu tiên có lẽ là “Lòch sử cấp nước thành phố Sài Gòn “ của Brenil và Nolleret (1936). Trong thập kỷ 50 có sự đóng góp của các tác giả Richard.C, Vielard Godon, Brashears với các nội dung “ Vấn đề nước uống được ở Việt Nam và sự kiểm tra các hệ thống phân phối công cộng “, “Tầm quan trọng của nước mưa ở Sài Gòn “, “Tiềm năng cấp nước vùng Sài Gòn-Chợ Lớn “. Trong khoảng những năm từ 1969-1975 còn có ”Phát hiện nước ngọt ở vùng rừng Sát tỉnh Gia Đònh“ của Anderson H.R, Nguyễn Đình Viễn và Trònh Thanh Phác. Ngoài ra Rasmusseu còn có bài viết về “Tiềm năng nước dưới đất châu thổ sông Mêkông“. Trong đó đã phác họa được những nét GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 15 Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất khu vực Gò Vấp – Hóc Môn khái quát về điều kiện ĐCTV khu vực bao trùm lãnh thổ thành phố, rút ra được những nhận xét về triển vọng nước và kiến nghò về khai thác sử dụng. Nhìn chung số lượng nghiên cứu không nhiều, mang tính chất khái lược hoặc tản mạn, thiếu hệ thống. Tuy nhiên cũng cần lưu ý người đọc về tính chất thực dụng. Trong việc đầu tư vốn dưới các thời kỳ thuộc chế độ cũ khó có thể có được công trình nghiên cứu dài hơi và có hệ thống trong lónh vực này. Trong khi đó, kỹ nghệ khoan giếng khai thác nước ngầm lại khá phát triển. Trong khoảng 34 năm, từ năm 1932 đến 1966 đã có ít nhất 35 lỗ khoan khai thác nước ngầm được thực hiện trong phạm vi thành phố. Lỗ khoan sâu nhất đạt được là 52 mét, nông nhất là 17 mét, khai thác bình quân 3100 m3/ngày. Trong số này còn có hơn 10 lỗ khoan đang hoạt động. Đáng kể nhất trong việc nghiên cứu điều kiện ĐCTV là công cuộc khảo sát nguồn nước ngầm Hóc Môn để cấp nước cho thành phố Sài Gòn thay thế cho nguồn nước cũ đang ngày càng giảm dần do khai thác quá mức cho phép. Trước tình hình dân số ngày càng đông thì có thể nói đây là công trình duy nhất có sự đầu tư đáng kể của chính quyền cũ. Công tác khảo sát do công ty đòa vật lý của Nhật Bản tiến hành dưới sự lãnh đạo của Tiến só Hyronm Tanabe theo nhiều bước từ năm 1970 – 1973. Đây là một công trình điều tra cơ bản được tiến hành khá nghiêm túc và đạt được kết quả nhất đònh trong việc đánh giá tiềm năng nước dưới đất vùng Hóc Môn. Tuy nhiên cần phải thấy rằng công tác nghiên cứu ở đây mới chỉ giới hạn ở việc đo sâu điện với khối lượng 50 điểm tới chiều sâu 150 mét trên cơ sở 3 lỗ khoan sâu 120 mét. Đã vậy, chiều sâu nghiên cứu (khoan, bơm, đo đòa vật lý) đều được chọn một cách máy móc và việc phân chia lớp cũng dựa trên những nhận thức trực quan, không chú ý đến cấu trúc điạ chất và đòa tầng, do đó cũng rất khó khăn trong việc liên hệ và đánh giá mối quan hệ của vùng nghiên cứu GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550 16

No comments:

Post a Comment