Wednesday, March 23, 2016
Phân tích chức năng du lịch. Cho ví dụ thực tế vào Việt Nam?
có trình độ văn hóa nói chung và chuyên môn cao, đó là những khách đến để
nghiên cứu nhưng số lượng không nhiều. Vì thế trong khuôn khổ một chuyến
du lịch người ta có thể hiểu được nhiều đối tượng nhân tạo. Do đó nó thích
hợp với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình. Vì như thế sẽ tạo được một
tour du lịch liên hoàn và khách du lịch sẽ không rơi vào những khoảng thời
gian trống vô vị.
Ví dụ: Như tuyến du lịch ở thành phố Nha Trang ta có thể đi thăm
nhiều nơi trong cùng một ngày với các điểm du lịch nằm gần kề nhau như:
Chợ Đầm, Tháp Bà Pônaga, Viện Hải Dương Học Nha Trang, cáp treo
Vinpearl,…
Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân tạo thường có văn hóa
cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn. Bởi vì đối với những du khách có vốn
văn hóa ít thì suy nghĩ của họ rất đơn giản, họ đi du lịch chủ yếu là làm sao
cho bản thân được thư giãn, thoải mái. Họ thường ít đắn đo tìm hiểu nhiều về
các mặt văn hóa. Và với thu nhập nhất định thì họ nghĩ là phải làm sao cho
“thật đáng đồng tiền”. Ví dụ như đối với một em bé học cấp 1 mà cho em đi
đến Thánh địa Mỹ Sơn thì hẳn em sẽ không đi, hay đối với một người công
nhân chẳng hạn. Bởi vì nó không phù hợp với cuộc sống của họ, họ không
biết đến đó để làm cái gì nữa. Điều đó chính là do đến với tài nguyên du lịch
nhân văn thì hoạt động chủ yếu là nhận thức. Ví dụ như đối với Nhã nhạc
cung đình Huế, phải là người có vốn văn hóa nhất định, chịu tìm hiểu, lắng
nghe thì mới dễ cảm, mới thấu hiểu được các giai điệu và hiểu được ý nghĩa
và cái hay trong đó và cuốn hút họ đến xem biểu diễn. Còn nếu không biết gì
thì khách sẽ nghe như là nghe thôi và nếu có thì lần sau chưa chắc họ đã dám
đến. Chính vì những khách đến là những người có văn hóa cao, am hiểu về
đối tượng nên họ dễ dàng phát hiện và không chấp nhận có sai sót. Do đó đòi
hỏi khâu tổ chức tour phải hoàn chỉnh. Tuy nhiên khách đến với loại tài
nguyên này có thu nhập cao nên đây cũng là một có hội lớn để đầu tư vào các
dịch vụ cao cấp, tăng doanh thu cho nghành. Họ đi du lịch với nhiều mục
đích khác nhau, như nghỉ ngơi an dưỡng, nghiên cứu khoa học, tìm hiểu
phong tục tập quán.
Ví dụ: Tổ chức các chuyến du lịch đi ra nước ngoài, như đi thăm Vạn
Lý Trường Thành ở Trung Quốc đòi hỏi khách du lịch phải có một số hiểu
biết sơ lược về công trình vĩ đại này, hay chí ít thì cũng hiểu biết sơ lược về
các công trình văn hóa, nó là niềm tự hào của người dân Trung Quốc, vì đây
là một trong 7 kì quan nhân tạo của thế giới.
Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và
các thành phố lớn. Thứ nhất, tài nguyên du lịch nhân văn là do con người tạo
ra. Nhưng không phaỉ là sản phẩm của một số ít người mà đó là sản phẩm vật
chất hay tinh thần của cả một cộng đồng dân tộc và được bảo tồn qua nhiều
thế hệ. Nơi nào dân cư tập trung càng đông đúc và lâu đời thì nền văn hóa
nơi đó càng phong phú và đa dạng. Thứ hai, nơi nào có tài nguyên du lịch
nhân văn thì nơi đó sẽ thu hút việc đầu tư khai thác phát triển cho du lịch. Và
dân số cũng sẽ tập trung ngày càng đông hơn. Dân số đông thì lại kéo theo sự
phát triển của nhiều nghành kinh tế khác nữa để đáp ứng nhu cầu của dân cư.
11
Ví dụ: như tại cố đô Huế. Từng một thời là kinh đô của nước Việt
Nam (1802-1945), nơi đây tập trung rất nhiều những di tích văn hóa-lịch sử
có giá trị. Đó là hàng trăm các công trình văn hóa do các đời vua triều
Nguyễn xây dựng. Ví dụ như: Kinh thành Huế và Đại Nội, lăng tẩm của 7
đời vua triều Nguyễn, khu đàn Nam Giao, chùa Thiên Mụ…Đó là chưa kể
những “Tài nguyên nhân văn phi vật thể” như Nhã nhạc cung đình Huế
chẳng hạn-Một di sản văn hóa phi vật thể thuộc đẳng cấp thế giới
Do thường tập trung tại các điểm quần cư và thành phố lớn - đầu mối
giao thông nên việc tiếp cận tài nguyên này dễ dàng hơn nhiều. Và cơ sở vật
chất tại các điểm quần cư có thể tận dụng được nhiều cho nghành du lịch.
Đặc điểm và cũng là ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn đó
là đại bộ phận không có tính mùa, ít bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Bởi
vì hoạt động du lịch tại đây ít được tổ chức ngoài trời. Do đi thăm tài nguyên
du lịch nhân văn sẽ là một lựa chọn lý tưởng cho những thời kỳ hay những
ngày mà thời tiết không được tốt. Ví dụ như Phố cổ Hội An vậy, nơi đây có
thể tiếp nhận khách quanh năm.
Tài nguyên du lịch nhân văn được đánh giá chủ yếu bằng trực cảm
hoặc xúc cảm của khách du lịch tùy trình độ, nghề nghiệp, lứa tuổi, tôn
giáo…Do đó trong hoạt động tổ chức du lịch nên nghiên cứu kỹ về các luồng
khách. Ví dụ như đối với “Cải lương” ở Nam Bộ thì du khách “đứng” tuổi lại
thích nhưng giới trẻ đa phần thì không.
Câu 4: Phân tích một số tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa du
lịch lớn. Cho ví dụ cụ thể tại Việt Nam để chứng minh?
Phần thảo luận
Theo bạn An thì có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó các
di sản văn hóa thế giới là một dạng tài nguyên nhân văn hết sức ý nghĩa đối
với hoạt động du lịch. Bởi vì khi được công nhận là di sản văn hóa thế giới
thì di sản ấy được nâng lên tầm quốc tế. Thu hút khách trên toàn cầu và đây
chính là một cơ hội vàng để phát triển di sản được công nhận là di sản văn
hóa thế giới mà còn để quảng bá các tài nguyên du lịch khác nữa ở nước ta.
Theo bạn Út, ở nước ta có không ít các di sản được công nhận là di
sản văn hóa thế giới ví dụ như: Cồng chiên Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình
Huế, Phố cổ Hội An, …
Theo bạn Xuân thì trong những di sản ấy ta nên chọn “Nhã nhạc
cung đình Huế”.
Theo bạn Văn thì các lễ hội cũng là một tài nguyên du lịch nhân văn
có ý nghĩa du lịch lớn. Bởi trong kho báu di sản quá khứ để lại cho hôm nay,
các lễ hội dân tộc là một trong những thứ quý giá nhất.
Theo bạn Xuyên thì các lễ hội không chỉ có ý nghĩa tâm linh cao qúy
mà còn có phần hội rất vui nhộn. Chính vì thế các lễ hội hình thành nhiều nét
thẩm mỹ trong lòng cộng đồng tham dự, bên cạnh đó còn củng cố cho du
khách nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp.
Theo bạn Hạnh thì chính vì như bạn Xuyên nói mà các lễ hội làm
cho mọi người thân thiện, gần gũi nhau hơn. Đến với lễ hội, trong lòng du
khách sẽ cảm thấy an lành, thanh thản.
12
Theo bạn An thì nước ta có rất nhiều lễ hội, ví dụ như: Lễ hội Thánh
Gióng, Lễ hội Chử Đồng Tử, Lễ hội đền Hùng, Lễ hội chùa Hương…
Kết luận
Tài nguyên du lịch nhân văn là loại tài nguyên có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch. Trong đó, các di sản văn hóa
thế giới và di tích lịch sử - văn hóa được xem là một trong những tài nguyên
quan trọng. Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch. Các
di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với môi trường
xung quanh….bảo đảm sự sinh động của quá khứ đã nhào nặn nên chúng và
bảo đảm cho khung cảnh cuộc sống sự đa dạng của xã hội. Trải qua các triều
đại, các tiến trình của lịch sử các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn
hóa đã chứng minh cho những sáng tạo to lớn về văn hóa, tôn giáo và xã hội
loài người. Việc phục hồi bảo vệ và tôn tạo các di sản, các vết tích của con
người trong các thời kỳ lịch sử, những thành tựu văn hóa, văn nghệ…không
chỉ là nhiệm vụ lớn của nhân loại trong thời kỳ hiện đại mà nó còn gia trị rất
lớn với mục đích du lịch.
DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
Một di sản văn hóa được xem là di sản văn hóa thế giới thì di sản ấy phải đạt
được một trong 6 tiêu chuẩn sau:
Hình 8: Biểu tượng di sản văn hóa thế giới
Nguồn: vi.wikipedia.org
- Là tác phẩm độc nhất vô nhị, hàng đầu do con người tạo nên.
- Có ảnh hưởng đến sự phát triển đến nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật
cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn
hóa nhất định.
- Là cơ sở xác thực của một nền văn minh đã hòan toàn bị biến mất
- Cung cấp một ví dụ hùng hồn cho một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc
phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.
- Một dạng nhà ở truyền thống nói lên được một nền văn hóa có nguy cơ
bị hủy hoại trước những biến động không cưỡng lại được.
-Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được
những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập
cũng như về vị trí.
Việc di sản của một quốc gia được công nhận, tôn vinh là di sản thế
giới mang lại nhiều ý nghĩa. Tầm vóc giá trị của di sản được nâng cao, nó
13
được đặt trong mối quan hệ toàn cầu. Các giá trị văn hóa thẩm mỹ cũng như
các ý nghĩa kinh tế, chính trị, vượt khỏi phạm vi một nước. Khả năng thu hút
khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ to lớn hơn nhiều. Bây giờ không chỉ là
trong nước nữa mà nhiều du khách quốc tế sẽ biết đến di sản văn hóa này
nhiều hơn. Tạo điều kiện nâng cao chất lượng du lịch ở nơi có di sản văn hóa
thế giới lên tầm quốc tế một cách mạnh mẽ. Đây cũng là một tiền đề, một cơ
hội để quảng bá về Việt Nam cho du khách quốc tế. Và sau đó không chỉ là
di sản văn hóa thế giới tại đó không mà cả những di sản khác, những tài
nguyên du lịch khác cũng sẽ được khách quốc tế biết đến nhiều hơn.
Ví dụ: Ngày 07 tháng 11 năm 2003 Nhã nhạc âm nhạc cung đình Việt
Nam mà Huế gìn giữ bấy lâu đã chính thức được UNESCO xếp vào danh
mục những Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Âm nhạc cung đình Huế là sự kế thừa và phát triển lên một đỉnh cao mới
những thành tựu của dòng nhạc cung đình Thăng Long đã được xây dựng từ
nhều thế kỉ trước. Nhã nhạc cung đình Huế không chỉ duy trì được hình thức
tổ chức dàn nhạc cung đình, sử dụng nhiều nhạc khí trong âm nhạc cung đình
Thăng Long, các điệu múa cung đình có từ trước mà còn sáng tạo một thể
loại ca nhạc thính phòng mới đẩy khí nhạc Việt Nam lên một bước phát triển
cao hơn cả về kỹ thuật diễn tấu, hình thức hòa tấu. Bên cạnh đó Nhã nhạc
cung đình Huế còn kế thừa nghệ thuật hát bội ở Đang Ngoài, kế thừa có biến
hóa hệ thống âm luật năm Hồng Đức thời Lê, kế tục truyền thống học hỏi,
tiếp thu và Việt hóa những yếu tố nước ngoài. Chính vì thế mà Nhã nhạc
cung đình Huế mang trong mình quá trình hội nhập, tiếp biến của văn hóa
Hoa, Chăm và những ảnh hưởng của Nho, Phật giáo. Có quan hệ mật thiết
với nghệ thuật tuồng. Âm nhạc cung đình Huế rất đa dạng và phong phú về
nhiều mặt: Về loại hình nghệ thuật, về loại nhạc, về chủng loại nhạc khí và
âm sắc, về môi trường trình diễn và về nhạc điệu. Nhờ vậy mà đến với Nhã
nhạc cung đình Huế người thưởng thức sẽ có nhiều “món” để thay đổi “khẩu
vị” không những cho thính giác mà cả thị giác.
Nó có quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cao: Cổ xúy đại nhạc có trên 40
nhạc công, múa Bát dật huy động tới 64 vũ sinh……
Tính ứng tấu và biến hóa lòng bản cao: ngươi chơi với nhiều tâm
trang, trang thái khác nhau cho một bài, nhưng không phải tùy tiện mà phải
nằm trong khuôn khổ và niêm luật được quy định. Mỗi nhạc cụ chỉ sử dụng
một chiếc tạo nên bản hòa tấu tri âm tri kỷ.
Tính bác học: được đặc trưng bởi nhiều yếu tố, nhiều gốc độ khác nhau:
- Loại nhạc thành văn
- Âm nhạc được xây dựng theo vũ trụ quan cổ đai
- Đã có hệ thống lý luận âm nhạc
- Ca từ dùng ngôn ngữ Hán và một số thể loại thơ Trung Hoa.
Nhã nhạc cung đình Huế và một di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng
cho nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, nó là tất cả tinh hoa của loại hình
nhạc cung đình Việt trong suốt hơn một ngàn năm qua. Với những đặc tính
của cung đình không phải ai cũng có thể được thưởng thức, và hiểu được cái
hay cái đẹp của loại hình này, nên đây là một sự bí ẩn gây nên sự to mò, hấp
dẫn của du khách đối với di sản đăc biệt này. Khi Nhã nhạc cung đình Huế
14
được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, thì giá trị của di
sản được nâng lên tầm quốc tế. Không chỉ mọi người trong nước biết nhiều
hơn mà chủ yếu là mọi người trên thế giới cũng sẽ biết nhiều hơn về di sản
này. Và thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam, khi họ đã
đến Việt Nam thì đây là cơ hội để quảng bá thêm cho những di sản khác và
quảng bá về con người Việt Nam.
Ví dụ: Như khi đến với Nhã nhạc cung đình Huế, tức đến với xứ Huế
thì du khách quốc tế không chỉ được tìm hiểu về Nhã nhạc cung đình, về Cố
đô mà còn được biết thêm về vườn quốc gia Bạch Mã chẳng hạn hay những
công trình kiến trúc lân cận. Nếu biết cách thai thác và bảo tồn đúng thì đây
sẽ là một trung tâm văn hóa truyền thống đặc sắc đầy tìm năng của nước ta,
hàng năm thu hút rất nhiều du khách, nó còn là nơi giáo dục truyền thống tốt
đối với người dân Việt Nam.
Hình 9: Nhã Nhạc Cung đình Huế
Nguồn: www.vietstamp.net
Bên cạnh các di sản văn hóa thế giới thì các lễ hội cũng là một trong
những tài nguyên nhân văn có ý nghĩa du lịch lớn.
CÁC LỄ HỘI
Các lễ hội tạo nên một môi trường mới, huyền diệu giúp cho người
tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi mọi sinh vật sống. Lễ
hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội rễ, bản thể
của mình. Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ
hội dân tộc có lẽ là một trong những thứ quý giá nhất. Và vì thế các lễ hội
dân tộc lành mạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân rộng, phát triển
cả về hình thức và nội dung. Các lễ hội có sức thu hút, hấp dẫn du khách
không kém gì các di tích lịch sử - văn hóa.
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và
phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động
mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng
15
đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi
lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
Đối với một lễ hội thì hai phần quan trọng nhất là phần nghi lễ và
phần hội.
Phần nghi lễ: các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với
những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và
theo không gian.
Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm
lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi
lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Nghi thức lễ nhằm bày tỏ lòng tôn
kính với các thánh hiền, thần linh, cầu mong được thiên thời địa lợi, nhân
hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nghi lễ tạo nền móng vững chắc, tạo một
yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với cả cộng đồng dân
tộc người đi hội trước khi chuyển qua phần xem hội. Chính phần lễ này đã
cuốn du khách vào một thế giới tâm linh huyền bí, một nét văn hóa tinh thần
đặc trưng. Và chính phần nghi lễ cũng đã làm cho du khách hiểu thêm về
nhiều nét văn hóa, “tâm hồn thanh thản, thành kính hơn”, càng thấu hiểu và
thấm thía hơn những giá trị lịch sử, càng năng cao những giá trị thẩm mỹ và
lòng yêu nước…
Phần hội diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý
cộng đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó về
thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên. Trong hội thường có những trò vui,
những đêm thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công người
xưa. Đây là một cơ hội để cho người dân nơi đó vui chơi, giải bớt căng thẳng
sau một năm, một mùa hay để mừng thắng lợi…Đặc biệt đây là một cơ hội
lớn để các chàng trai, cô gái có thể gặp gỡ, tìm hiểu nhau. Phần hội thường
gắn liền với tình yêu, giao duyên nam nữ nên có phong vị tình. Và chính
phần hội này đưa du khách đi từ những nét văn hóa thẩm mỹ, tâm linh thành
kính sang sự thanh thoát trong tâm hồn, không toan tính, họ hòa nhập vào
nhau vui đùa. Làm cho du khách và cộng đồng dân cư nơi đó trong giây phút
đó du thế nào cũng trở nên hiền hòa, gần gũi và phấn chấn hơn hẳn. Bỏ qua
mọi lo toan cuộc sống, mọi người chan hòa vào nhau như chưa bao giờ thân
thiết hơn như thế.
Lễ hội thường xuất hiện vào thời điểm lịnh thiêng của sự chuyển tiếp
giữa hai mùa, đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ lao động, chuẩn bị bước sang
một chu kỳ mới.
Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều lễ hội truyền thống. Trong
đó Lễ hội Chử Đồng Tử cũng là một trong những lễ hội điển hình.
Lễ hội này được tổ chức ở hai đền: đền Đa Hòa và đền Dạ Trạch.
16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment