Sunday, March 20, 2016

Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai của huyện Tuy Phước-tỉnh Bình Định giai đoạn 2005-2007

đất và nông dân nên Đảng đã dấy lên cao trào cách mạng và trở thành đội tiền phong lãnh đạo cả dân tộc đánh đổ ách thống trị của bọn thực dân phong kiến. Cách mạng tháng Tám giành được thắng lợi, chúng ta có thể nói là chủ trương đường lối ruộng đất đúng đắn của Đảng đã trở thành vũ khí, sức mạnh sắc bén góp phần đắc lực đưa cách mạng thành công. 1.2.2.2. Thời kỳ từ năm 8/1945 đến năm 1993 Đất đai là một trong hai mục tiêu quan trọng nhất của cuộc Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân do Đảng ta lãnh đạo: “đánh đuổi thực dân để giải phóng đất nước và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến đem lại ruộng đất cho dân cày”. Ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh: “Toàn dân tăng gia sản xuất nông nghiệp” và “khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp” để chống đói, giải quyết tình hình trước mắt cho nhân dân, hàng loạt Thông tư, Nghị định của Bộ Quốc dân Kinh tế và Sắc lệnh của Chủ tịch Nước đã ban hành nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Nhân dân ta đã sử dụng đất thuộc các đồn điền vắng chủ, khai khẩn đất hoang để tăng gia sản xuất cứu đói. Ngày 18/6/1949, thành lập nha Địa chính trong bộ Tài chính và tập trung làm thuế nông nghiệp phục vụ cho kháng chiến. Ngày 14/12/1953 Quốc hội đã thông qua “Luật cải cách ruộng đất” thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Theo Hiến pháp 1946, quyền sở hữu đất đai được đảm bảo, ruộng đất chia đều cho dân cày, người cày được canh tác trên thửa đất của mình. Trong giai đoạn 1955–1959, cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương được thành lập vào ngày 3 tháng 7 năm 1958, đó là Sở Địa chính thuộc Bộ Tài chính với chức năng chủ yếu là quản lý diện tích ruộng đất để thu thuế nông nghiệp. Ngày 05/5/1958 có Chỉ thị 334/TTg cho tái lập hệ thống địa chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ giải thửa và hồ sơ địa chính. Về mặt quản lý, Sở Địa chính được chuyển từ Bộ Tài chính thành Vụ Quản lý ruộng đất thuộc Bộ Nông nghiệp với chức năng quản lý sử dụng đất nông nghiệp, cải tạo và mở mang ruộng đất. Năm 1970 Bộ Nông nghiệp đã triển khai chỉnh lý bản đồ giải thửa và thống kê diện tích đất cả nước. 11 Giai đoạn 1980 – 1991 được mở đầu bằng Hiến Pháp 1980, trong đó đảm bảo thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể. Hiến pháp đã quy định toàn bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân được Nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật và quy hoạch. Trong thời gian này, hệ thống tổ chức quản lý đất đai chưa đủ mạnh trên phạm vi toàn quốc cho mọi loại đất, chưa có quy hoạch sử dụng đất toàn quốc, Nhà nước mới chỉ quan tâm tới quản lý và các chính sách đối với đất nông nghiệp nên đã dẫn đến việc giao và sử dụng tuỳ tiện các loại đất khác, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch. Từ năm 1980 đến năm 1991, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý được xác lập. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập Tổng cục Quản lý Ruộng đất vào năm 1979 thuộc Chính phủ và các cơ quan quản lý ruộng đất ở địa phương trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp. Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 về việc triển khai đo đạc giải thửa nhằm nắm lại quỹ đất toàn quốc, đáp ứng nhu cầu quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn mới. Đầu năm 1981, Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Tiếp theo, Đại hội Đảng khóa VI năm 1986 đã đưa vấn đề lương thực - thực phẩm trở thành một trong ba chương trình mục tiêu đổi mới kinh tế. Năm 1987 Luật Đất đai lần đầu tiên của nước ta được chuẩn y, có hiệu lực từ năm 1988. Dấu mốc tiếp theo có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế nông nghiệp là Nghị Quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 5/4/1989, một văn kiện quyết định nhằm đổi mới chế độ sử dụng đất nông nghiệp. Nghị Quyết đã khẳng định việc chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp theo hướng sản xuất hàng hóa. Đây là những bước đi có tính then chốt nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn trên cơ sở Nhà nước giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Để triển khai Luật Đất đai 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VII, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn hai 12 Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành một Nghị định, Thủ tướng Chính phủ đã có một Chỉ thị. Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã ban hành một số Quyết định và Thông tư hướng dẫn. Giai đoạn từ năm 1992 tới nay, bắt đầu bằng Hiến pháp 1992 xác định điểm khởi đầu công cuộc đổi mới hệ thống chính trị. Chế độ sở hữu và quản lý đất đai được ghi vào Hiến Pháp, trong đó quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17) “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” (Điều 18). Như vậy, Hiến pháp 1992 đã quy định rõ ràng về chế độ sử dụng đất cũng như phương thức quản lý sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đòi hỏi sửa đổi Luật Đất đai cho phù hợp với cơ chế thị trường, đặc biệt để tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và lao động nông nghiệp theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luật Đất đai mới đã được Quốc hội (khóa XI) thông qua tại kỳ họp lần thứ 4, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố ngày 31/7/1993. Ngay sau khi ban hành Luật Đất đai 1993, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ đã ban hành hàng loạt các văn bản luật, Pháp lệnh, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư để triển khai công tác quản lý Nhà nước về Đất đai. Luật Đất đai năm 1993 có 07 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. 1.2.2.3. Thời kỳ từ 1993 đến nay Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước ta đã liên tục sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý và sử dụng đất đai trong toàn quốc. Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001 là những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả đạt được góp phần tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị, nâng cao đời sống của người dân. 13 Chính sách, pháp luật đất đai đã trở thành một trong những động lực chủ yếu để đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản và thủy sản. Kinh tế nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng tự cấp tự túc và chuyển sang sản xuất hàng hóa; bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện. Diện tích đất có rừng che phủ từ chỗ bị suy giảm mạnh, gần đây đã được khôi phục và tăng nhanh. Cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Diện tích đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị tăng nhanh, đáp ứng phần lớn nhu cầu sử dụng đất trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Người sử dụng đất gắn bó với đất đai, quyền sử dụng đất đã trở thành vốn lớn để người sử dụng đất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Công tác quản lý nhà nước về đất đai dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật đất đai ngày càng hoàn thiện, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt; hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tự chủ của địa phương . Tuy nhiên, tình hình quản lý và sử dụng đất đai đang có nhiều yếu kém. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn, tính khả thi thấp; việc quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch chưa trở thành ý thức trong các cơ quan và người quản lý, sự tuỳ tiện khá phổ biến. Hệ thống quản lý Nhà nước về đất đai còn nhiều bất cập, cơ chế quản lý tài chính về đất đai thiếu hiệu quả. Thị trường bất động sản hoạt động tự phát, nhiều giao dịch về đất đai không qua cơ quan nhà nước. Cơ quan quản lý đất đai các cấp nhìn chung yếu kém, cán bộ địa chính ở cơ sở năng lực còn yếu, lại thường xuyên thay đổi công tác. Hệ thống đăng ký đất đai còn mang tính thủ công, thiếu đồng bộ và chưa phát huy được vai trò là công cụ để thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Để khắc phục những nhược điểm, bất cập trong hệ thống pháp luật đất đai hiện hành, ngày 26-11-2003 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai 2003 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-7-2004. 14 Thông qua 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2003 đã xác định vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là rất quan trọng và luôn khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Vai trò của quản lý Nhà nước về đất đai được nâng lên một bậc, vai trò và quyền hạn của từng cấp được xác định rõ ràng. Đất đai được quản lý chặt chẽ và sử dụng hợp lý hơn, mang lại hiệu quả kinh tế hơn. 1.2.3. Tình hình sử dụng và quản lý đất đai của huyện hiện nay 1.2.3.1. Tình hình quản lý Thời kỳ trước luật đất đai năm 1993, huyện chưa có bộ phận chuyên trách quản lý nhà nước về đất đai, do đó công tác quản lý theo dõi biến động và lập kế hoạch đất đai chưa chặt chẽ. Hàng năm không theo dõi được biến động của các loại đất dẫn đến số liệu chưa chính xác, từ trước năm 1985 hầu như không có số liệu thống kê về đất đai. Từ khi luật đất đai 1993 ra đời công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện từng bước đi vào nề nếp, nhận thức pháp luật về đất đai trong nhân dân được nâng cao, tình hình vi phạm pháp luật trong đất đai ngày càng giảm. Hiện nay, công tác lập hồ sơ 364/CP về xác định ranh giới địa chính trên địa bàn huyện đã hoàn thành. Thực hiện Chỉ thị 299/TTg của Chính phủ, huyện đã hoàn thành công tác đo đạc phân hạng và đăng ký đất đai. Đã cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho toàn bộ những hộ có đất làm nông nghiệp, đồng thời đã giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất trong thời gian qua trên địa bàn huyện Tuy Phước đã đi vào nề nếp, đảm bảo thủ tục, đúng thẩm quyền. 1.2.3.2. Quan điểm khai thác sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Tuy Phước Đất đai có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước, là tư liệu sản xuất trực tiếp của kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp. Cho nên hệ thống đất đai chặt chẽ và chính sách đất đai phù hợp sẽ có tác dụng tích cực trong việc tăng sản lượng kinh tế nông nghiệp, đổi mới bộ mặt nông thôn nhằm cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ tài nguyên môi trường và sinh thái. Nói chung muốn phát huy mọi tiềm năng của đất phải dựa trên cơ sở lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất hợp lý, đất nông, 15 lâm, ngư nghiệp, đất khu dân cư, đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… và kiểm soát quá trình đô thị hoá nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lý, xây dựng xã hội công bằng văn minh. Vì vậy có thể nói hệ thống quản lý hồ sơ đất đai của huyện mà nhất là phòng Tài nguyên và Môi trường huyện và các ban, ngành chức năng đã tham mưu giúp UBND huyện thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, giao đất, thuê đất và thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…ngày càng tốt hơn, tạo tiền đề khi nền kinh tế huyện chuyển sang giai đoạn công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông thôn. Để quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện và các ngành chức năng nên công tác quản lý sử dụng đất đai trên địa bàn huyện chặt chẽ hơn. CHƯƠNG II KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN TUY PHƯỚC 2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2.1.1. Vị trí địa lí Tuy Phước là một huyện đồng bằng ven biển miền Trung, nằm ở phía Nam tỉnh Bình Định, tiếp giáp với thành phố Quy Nhơn. Phía Đông cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 16

No comments:

Post a Comment