Wednesday, March 23, 2016
Nền kinh tế tri tri thức
Ứng dụng các công nghệ mới, đổi mới tổ chức quản lý sản xuất ở
nông thôn để phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, dịch
chuyển nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Phải khởi
động ngay ở nông thôn một khu vực khác năng động và hiện đại, đó là
khu vực công nghiệp. Từ một sự tích lũy ban đầu, khu vực này sẽ phát
triển nhanh. Đồng thời kết hợp tri thức truyền thống và tri thức hiện đại,
với công nghệ mới để hiện đại hóa, phát triển các làng nghề truyền thống
để xây dựng được một nền văn hóa kinh doanh lâu đời.
− Đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ:
Tăng nhanh các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến dựa vào công nghệ
mới, giá trị cao; phát triển những ngành sản xuất chủ bài có tính cạnh
tranh cao; giảm tối thiểu các sản phẩm xuất khẩu thô, ít chế biến, mà
thực chất chỉ là bán tài nguyên. Tăng giá trị xuất khẩu lên nhiều lần so
với hiện nay. Các ngành hiện có thể tiếp tục phát triển, nhằm tận dụng
cơ sở vật chất và lực lượng lao động, giải quyết việc làm, đáp ứng các
nhu cầu cơ bản của nhân dân, nhưng phải tiếp tục thu các tri thức mới
để đổi mới công nghệ, đổi mới sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh. Chỉ vận dụng cơ sở vật chất hiện có chừng nào còn hiệu
quả, đồng thời chú trọng sử dụng tri thức mới. Kiên quyết xóa bỏ,
chuyển đổi những cơ sở không còn hiệu quả. Đã xây dựng mới, là phải
sử dụng công nghệ mới nhất mà ta làm chủ được. Các ngành dịch vụ:
thương mại, du lịch, bưu chính, viển thông, tài chính, ngân hàng…là
những ngành có giá trị gia tăng cao, dựa nhiều vào tri thức, cần được
phát triển, hiện đại hóa nhanh trở thành những ngành kinh tế tri thức.
− Tập trung các điều kiện để phát triển có chọn lọc các ngành
kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao: Thực hiên vấn đề này nhằm
tạo những bước nhảy vọt của toàn bộ nền kinh tế. Các ngành công nghiệp
mới cần đi thẳng và những công nghiệp tiên tiến nhất, để cho ra các sản
phẩm để có tính cạnh tranh cao, chiếm lĩnh được thị trường thế giới. Ưu
tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, trước hết là công
nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, các ngàng công nghệ sinh
học, các ngành cơ điện tử, quang điện tử, các ngành vật liệu mới, năng
lượng mới, công nghệ nano. Những ngành công nghệ cao một khi ra đời
là có thể theo kịp trình độ chung của thế giới; đó là sự nhảy vọt, tốc độ
cao. Phát triển nhanh các ngành này sẽ có hai tác dụng lớn: thúc đẩy đổi
mới trong tất cả các ngành, và chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế theo
hướng gia tăng hàm lượng kinh tế tri thức.
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta đòi hỏi phải tiến hành một cuộc
đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn nữa - một cuộc đổi mới mới
trên tất cả các lĩnh vực:
11
+ Đổi mới căn bản cách thức phát triển kinh tế: chuyển đổi triệt
để từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ dựa chủ yếu vào
nguồn lực vật chất sang dựa chủ yếu vào nguồn lực trí tuệ, chuyển trọng
tâm đầu tư từ đầu tư hữu hình sang đầu tư vô hình. Coi tri thức là nguồn
vốn quan trọng. Coi quyền sở hữu trí tuệ là quan trọng nhất trong các
quyền sở hữu.
+ Đổi mới các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng
nhất của kinh tế thị trường, là nơi biến tri thức thành giá trị. Doanh
nghiệp coi vốn tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của mình.
+ Đổi mới giáo dục đào tạo: Cải cách triệt để nền giáo dục theo
chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo,
thích nghi với sự phát triển kinh tế tri thức.
+ Đổi mới khoa học công nghệ: Nâng cao năng lực khoa học công
nghệ quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, gắn kết
chặc chẽ khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh, nhanh chóng biến
tri thức thành giá trị.
+ Đổi mới thể chế và chính sách tổ chức quản lý: Tạo môi trường
kinh doanh sôi động, thúc đẩy sự cạnh tranh. Chính sách pháp luật rõ
ràng, công khai, minh bạch thúc đẩy dân chủ, khuyến khích mạnh mẽ khả
năng sáng tạo. Nhận thức vai trò của nhà nước với kinh tế tri thức. Nhà
nước từ điều khiển chuyển sang giữ vai trò định hướng phát triển, tạo môi
trường thuận lợi và động viên mọi người, mọi lực lượng tham gia xây
dựng nền kinh tế tri thức.
Mọi cố gắng của chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và các
tổ chức khoa học nhằm thúc đẩy việc tạo ra tri thức, vận dụng tri thức,
biến tri thức thành giá trị; hỗ trợ đắt lực cho việc đổi mới công nghệ, dịch
chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri
thức.
Trong các giải pháp để phát triển kinh tế tri thức thì cần tập trung
đưa ra các giải pháp để phát triển nền giáo dục và phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao - yếu tố chi phối nhiều nhất đối với năng lực sáng tạo
và tốc độ đổi mới. Bên cạnh đó phải phát triển và ứng dụng rộng rãi công
nghệ thông tin trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội - động lực mạnh mẽ
thúc đẩy đổi mới và phát triển, tiến lên kinh tế tri thức.
Cải cách giáo dục và dào tạo: Con người phải biết tự đào tạo,
luôn tiếp thu tri thức mới, có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới
cách nghĩ, cách làm thì mới có thích nghi và làm chủ được kinh tế tri
thức.
Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần
quảng bá tri thức. Vì vậy người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản
nhất trong nền kinh tế tri thức.
12
Trong tình hình hiện nay, việc đầu tư suy ngẫm để hoạch định một
chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo cũng không thể tách rời việc tìm
kiếm các giải pháp đột phá nhằm khắc phục những yếu kém hiện tại và
cũng là dọn đườngcho việc thực hiện việc chiến lược cho tương lai.
Ngoài giải pháp chung về cải cách kinh tế, cải cách hành chính để tạo môi
trường thuận lợi cho giáo dục, thì theo tôi nghĩ là phải có các giải pháp
sớm cho vấn đề cấp bách như sau: Cải thiện đời sống và bồi dưỡng năng
lực chuyên môn thường xuyên cho thầy giáo để họ có điều kiện toàn tâm
ý cho việc dạy học và tham gia các công tác giáo dục – đào tạo; Cải cách
các chế độ thi cử, tuyển chọn, tuyển dụng,… để khắc phục tình trạng học
chỉ để thi, học vì bằng cấp, nạn bằng giả, học vị rởm; Tổ chức chu đáo
việc nghiên cứu cải cách chương trình và nội dung dạy học, biên soạn
sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy cho chất lượng một cách thích hợp
cho các cấp học; Tích cực ứng dụng công nghệ tin và sử dụng Internet
trong giáo dục và đào tạo, trong việc dạy và học, phát triển dần các hình
thức tự học; Và để thực hiện các giải pháp quan trọng nhất là phải tìm
cách huy động mọi nguồn đầu tư trong xã hội cho giáo dục đào tạo, ít
nhất cũng phải được khoảng 23% - 25% như nhiều nước trong khu vực;
Có những cải cách trong giáo dục đại học để đáp ứng yêu cầu phát triển
của đất nước. Đào tạo ra những kỹ sư, kỹ thuật viên lành nghề,các cử
nhân có tri thức vững vàng. Phát triển giáo dục đại học từng bước hiện
đại như các nước phát triển khác.
Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, thì trước hết nhà nước
phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi hiền tài là “nguyên
khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của
những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, quản
lý kinh doanh, văn học-nghệ thuật. Đi đôi với năng cao chất lượng giáo
dục.
Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học, nâng cao số năm đi học bình
quân của người trong độ tuổi lao động lên 12 năm vào trước năm 2020.
Nhiệm vụ cấp bách là tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong
giáo dục:cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp
dạy học, hệ thống giáo dục. phương thức tổ chức quản lý giáo dục-đào
tạo.
Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng
rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực
sáng tạo, thích nghi sự phát triển. Chuyển từ mô hình giáo dục truyền
thống sang mô hình giáo dục mới: hệ thống học tập suốt đời, phát triển
nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản
để người học ra trường vừa học tập vừa lao động suốt đời. Phát triển hệ
thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng
13
hàng đầu để bồi bưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút
ngắn dựa vào tri thức. Xã hội hóa học tập và xã hội hóa thông tin là tiền
đề cho nền kinh tế tri thức.
Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các
lĩnh vực kinh tế.:
Công nghệ thông tin là chìa khóa để đi vào nền kinh tế tri thức. Ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin sẽ góp phần giải phóng sức mạnh vật
chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực mạnh mẽ cho phát
triển hệ thống đổi mới, phát triển nhanh và và hiện đại hóa các ngành
kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh, hổ trợ hiệu quả quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm
bảo an ninh, quốc phòng, tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa dựa trên tri thức.
Ứng dụng rộng rải công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các
lĩnh vực để đổi mới và phát triển. Nhanh chóng phát triển chính phủ điện
tử, thương mại điện tử, tin học hóa các hoạt động tài chính ngân hàng,
giáo dục trên mạng, y tế từ xa…. Phấn đấu xây dựng xã hội thông tin
trước năm 2015. Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân truy cập thông
tin. Thực hiện sự hài hòa giữa việc kiểm soát với quyền tự do thông
tin.Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc,giữ gìn tính đa văn
hóa và tính đa ngôn ngữ. Có chính sách, biện pháp khắc phục sự khác biệt
về thông tin giữa các vùng, các đối tượng dân cư.
Cần ưu tiên trợ giúp cho các vùng nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh
tiếp xúc với thông tin giá rẽ hoặc miễn phí. Mọi doanh nghiệp coi thông
tin là động lực hàng đầu cho đổi mới và phát triển. Sử dụng công nghệ
thông tin để đổi mới hệ thống tổ chức quản lý các nguồn lực hiệu quả
hơn, sử dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường, đổi mới cách sản
xuất kinh doanh, nâng cao cơ sở tri thức cho doanh nghiệp.
Đẩy mạnh hơn nữa đào tạo nhân lực cho công nghệ thông tin;
đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công
nghệ thông tin, nhằm tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển và ứng
dụng công nghệ thông tin. Phát triển phần mềm mã nguồn mở phải coi là
ưu tiện quốc gia, đó là nhân tố quan trọng để phát triển công nghệ thông
tin trong nước.
Mạng thông tin điện tử là môi trường lý tưởng cho việc quảng bá
tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, nó rút ngắn khoảng
cách giữa khoa học, sản xuất với tiêu dung, làm tăng nhanh tốc độ đổi
mới. Chính công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự chuyển đổi hệ thống đổi
mới từ mô hình tuyến tính sang mô hình tác động qua lại giữa các yếu tố.
Tóm lại, Việc phát triển kinh tế tri thức là một đòi hỏi mà tất cả
các nước trên thế giới luôn mong muốn vươn tới. Việt Nam cũng vậy,
14
việc tiến lên kinh tế tri thức giúp cho Việt Nam có thể nhanh chóng phát
triển, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, Góp phần làm cho nước ta có sự
tăng trưởng về kinh tế, ổn định chính trị, phát triển văn hóa xã hội. Tuy
còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức đặt ra cho nước ta. Nhưng với tiềm
lực của đất nước và nổ lực to lớn của Chính Phủ, và sự đóng góp tài
năng, trí tuệ của toàn dân thì việt tiến lên kinh tế tri thức của Việt Nam sẽ
thành công trong tương lai./.
15
Mục lục
I. Khái niệm về kinh tế tri thức.............................................................................1
II. Những đặc trưng và tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển.....2
1. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức.................................................................2
2. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển.......................3
a. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển chung của
Thế Giới
b. Những tác động của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển kinh tế của
Việt Nam
III. Vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.................................................5
1. Thời cơ và thách thức của Việt Nam để phát triển kinh tế tri thức...............5
2. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay..........................6
a. Thực trạng cơ cấu kinh tế của nước ta hiện nay
b. Thưc trạng phát triển công nghệ thông tin theo hướng tri thức hóa
c. Thực trạng phát triển công nghệ sinh học theo hướng tri thức hóa
d. Thực trạng nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay
3. Giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam........................8
Các tài liệu tham khảo.........................................................................................13
Tài Liệu Tham Khảo
1. Đào Ngọc Cảnh: Dân số và phát triển, Trường đại học Cần Thơ (2007)
2. Kinh tế Việt Nam hội nhập và phát triển (2001), Nhà xuất bản TP. Hồ Chí
Minh.
3. Định hướng phát triển kinh tế tri thức Việt Nam (2003), Nhà xuất bản
Thống Kê.
4. Nguyễn Trần Quế (2004), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, Nhà xuất
bản Khoa Học Xã Hội.
Các Wedsite
5.
6.
7.
8.
9.
www.vietnamnet.com.vn
www.gso.gov.vn
www.dangcongsan.vn
www.lamhong.sky.vn
www.vnep.org.vn
16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment