Wednesday, March 16, 2016

236588

1.2.3. Mục đích phân loại Theo Kaurichev và Panov (1989), mục đích phân loại bản đồ đất là: - Sắp xếp các kiến thức đã học, hiểu biết về đất có hệ thống. - Hiểu mối quan hệ giữa các đơn vị đất có hệ thống theo biểu loại đất. - Sắp xếp các đặc tính đất có hệ thống theo từng biểu loại đất. - Ước đoán khả năng sản xuất của đất và xếp nhóm chúng theo mục đích sử dụng đất. - Phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học từ nơi này đến nơi khác. - Đất theo quan điểm phân loại là một đối tượng phức tạp: + Thứ nhất là do sự khác biệt về đặc tính của đất không có đường phân chia rõ rệt trong tự nhiên. + Thứ hai là rất nhiều tính chất của đất thay đổi theo thời gian. Những tính chất quan trọng của đất như pH của dung dịch đất, lượng và thành phần của các muối hoà tan, nhiệt độ, độ ẩm… Thay đổi theo năm, mùa và thậm chí thay đổi trong ngày. Theo Đỗ Nguyên Hải và Phạm Văn Mùa (2007), phân loại đất là tài liệu cơ bản quan trọng phục vụ đánh giá, phân hạng đất, phân bố sử dụng đất, quy hoạch thiết kế nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản đều phải dựa vào phân loại đất. Tính chất các loại đất là căn cứ bố trí cơ cấu cây trồng, chuyển đổi cây trồng, đầu tư phân bón, xây dựng biện pháp bảo vệ hay cải tạo đất. Phân loại đất có nhiều mục đích khác nhau: - Xác định nguồn tài nguyên đất đai của một đơn vị hành chính. - Căn cứ để xây dựng bản đồ đất. - Phân loại đất là cơ sở để tiến hành những nghiên cứu tiếp theo về đất. 1.2.4. Tên gọi và chẩn đoán đất Theo Kaurichev và Panov (1989), tên gọi đất trong hệ thống phân loại phải tương ứng với tính chất và vị trí của nó trong trong hệ thống phân loại. Tên gọi của đất bắt nguồn từ những đặc điểm của tầng trên mặt, màu sắc của nó đồng thời kể đến điều kiện sinh thái của vùng đất đó. Chẳng hạn như: đất xám bạc màu trên phù sa cổ, đất mặn, đất cát biển, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất đen, đất xám rừng. Trong một số trường hợp màu sắc của các loại đất giống nhau thì khi đặt tên gọi cho đất phải dựa thêm vào điều kiện sinh thái hình thành nên loại đất đó như: đất nâu rừng, đất nâu bán sa mạc. Hoặc điều kiện sinh thái là tên chính của đất đầm lầy, đất mặn ven biển. Tên gọi theo loại phụ gắn liền với tính tiêu biểu, tính chuyển tiếp của loại đất đó. Để biểu hiện nó người ta thêm vào tên của các tiến trình phụ trong hình thành đất hoặc những đặc tính tạo nên tiến trình đó. Chẳng hạn như: đất phèn nhiều, đất phèn trung bình, đất phèn ít, đất phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động v.v…đôi khi tên gọi loại phụ gắn liền với chế độ nước của đất hoặc chế độ nhiệt của đất. Tên của giống gọi theo đặc điểm của tính chất chất đặc trưng của đất như: mặn kiềm, thủy úng hoặc các dấu hiệu còn lại của giai đoạn trước quá trình hình thành đất, dấu hiệu của glây hoặc podzon. Tên của loại thể hiện về lượng các tính chất của đất được cường độ các tiến trình hình thành đất được sử dụng ở 3 mức độ như: ít, trung bình, nhiều đối với số lượng (mùn, carbonate v.v…) độ dày ít, độ dày trung bình, độ dày rất dày với tầng nào đó, độ sâu xuất hiện của một tính chất, dấu hiệu nào đó, mức độ thể hiện của một hiện tượng. - Tên thứ của đất gắn liền với thành phần cơ giới như: cát, cát pha thịt, thịt, sét v.v… - Tên của chi chỉ nguồn gốc của mẫu chất, đặc điểm của đá mẹ: trên phù sa cổ, trên đá macma axít. - Tên gọi hoàn chỉnh của đất phải bao gồm tên của tất cả các cấp bậc trong hệ thống phân loại. Theo Kaurichev và Panov (1989), chẩn đoán đất là tập hợp tất cả các đặc điểm của đất có thể có và có thể sắp xếp đất vào một loại đất nào đó rồi đặt tên đất hoàn chỉnh. Để chẩn đoán đất, ta sử dụng tất cả các xác định được trong quá trình khảo sát đất, nghiên cứu về hình thái phẫu diện đất (cấu tạo, độ sâu của các tầng, sự xuất hiện của những tầng đặc trưng và sắp xếp các tầng) và những phân tích đơn giản. Nhưng đôi khi những phân tích đó không đủ mà cần đến những phân tích phức tạp như: thành phần cation trao đổi, thành phần mùn, thành phần hoá học đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, chế độ nhiệt. 1.3. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI WRB-FAO 2006 1.3.1. Mục tiêu của WRB 2006 Theo FAO (2006), mục tiêu của phân loại: - Để phát triển một hệ thống có thể chấp nhận được trên toàn cầu để diễn đạt các tài nguyên đất mà các hệ thống phân loại ở cấp quốc gia có thể được kết hợp vào cũng như có quan hệ lẫn nhau, trong đó chú giải của FAO được sử dụng như một khung căn bản. - Để cung cấp cho khung phân loại này một nền tảng khoa học mà có liên quan như: nông nghiệp, địa chất, thuỷ văn và sinh thái… - Để nhận biết các quan hệ quan trọng trong phạm vi khung của hệ thống về mặt không gian của đất và các tầng đất mà nó được đặc tính hoá bằng những sự liên tục của địa hình và các tầng đất. - Để nhấn mạnh sự đặc tính hình thái của đất hơn là sự tiếp cận của các chỉ tiêu phân tích trong phòng thí nghiệm. - WRB cũng là một công cụ cho sự nhận biết các cấu trúc thổ nhưỡng và các ý nghĩa của chúng. Nó phục vụ như là một ngôn ngữ căn bản trong khoa học đất để tạo điều kiện cho: + Sự thông tin trong khoa học. + Sự thực hiện đầy đủ các cuộc kiểm tra tài nguyên đất và chuyển đổi các số liệu thổ nhưỡng, làm hoàn chỉnh các hệ thống phân loại khác nhau mà nó có cùng một nền tảng thông thường, cũng như sự diễn đạt các bản đồ. + Sự chấp thuận các mối quan hệ giữa các loại đất, sự phân bố các các tầng đất mà nó được đặc tính hoá bởi sự liên tục của địa hình và các tầng đất. - Việc sử dụng các số liệu thổ nhưỡng chung trên phạm vi quốc tế, không chỉ bởi các nhà khoa học về đất mà còn những người sử dụng đất khác như: các nhà địa chất học, thực vật học, nông học, thuỷ văn học, nông dân, các kỹ sư và kiến trúc sư với mục tiêu chuyên biệt trên cơ sở: + Sử dụng số liệu đất để phục vụ cho các lợi ích của các khoa học khác. + Đánh giá tài nguyên đất và tiềm năng sử dụng các loại che phủ đất khác nhau. + Kiểm chứng các loại đất, chủ yếu cho sự phát triển của loại đất chuyên biệt nào đó tùy vào cách mà các đất được sử dụng bởi cộng đồng con người. + Chấp nhận các phương pháp thí nghiệm về sử dụng đất phục vụ cho sự phát triển bền vững, mà nó được tồn tại và nếu thích hợp thì nó có thể cải thiện tiềm năng của đất. + Chuyển đổi các kỹ thuật sử dụng đất từ vùng này sang vùng khác. 1.3.2. Nguyên tắc phân loại Theo FAO (2006), Phân loại đất bao gồm 3 bước: Bước 1: Sơ lược về độ dày và chiều sâu của từng tầng trong mẫu đất cần phân loại sau đó kiểm tra lại với yêu cầu của tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán trong WRB. Mà những tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán này được định nghĩa thông qua hình thái và hoặc tiêu chí phân tích. Tầng nào mà có đầy đủ một hoặc nhiều hơn các đặc tính như trên mà nó giống với quy định của các đặc tính trong WRB thì được lưu ý tới. Bước 2: Kết hợp những mô tả về các tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán để so sánh với chìa khóa phân loại của WRB để tìm ra nhóm đất chính, đây là cấp phân loại thứ nhất của WRB. Người phân loại sẽ thông qua hệ thống chìa khoá này để loại trừ những nhóm đất trong tất cả các nhóm đất của WRB mà các đặc tính trên không phù hợp với yêu cầu của những nhóm đất đó. Mẫu đất cần phân loại này sẽ thuộc về nhóm đất mà các đặc tính ở trên đáp ứng được yêu cầu quy định của nhóm đất đó. Bước 3: Đối với cấp phân loại thứ hai của WRB, các hạng định được sử dụng. Các hạng định này được liệt kê trong chìa khóa của mỗi nhóm đất tham khảo như những hạng định tiền tố và hậu tố. Những hạng định tiền tố bao gồm những đặc tính có liên quan một cách điển hình với nhóm đất tham khảo và tổng hợp vào các nhóm đất tham khảo khác. Tất cả những hạng định còn lại được liệt kê như những hạng định hậu tố. Đối với cấp phân loại thứ hai, tất cả những hạng định được ứng dụng thì được thêm vào tên của nhóm đất tham khảo. Những hạng định thừa (là những đặc tính mà đã được bao gồm những hạng định đã được đặt trước đây) thì không được thêm vào. Tiếp đầu ngữ có thể được sử dụng để chỉ ra mức độ biểu hiện của các hạng định. Những lớp chôn vùi có thể được chỉ ra bởi tiếp đầu ngữ Thapto cái mà được sử dụng đối với bất kỳ hạng định nào. Những đất bị chôn vùi dưới vật liệu mới, thì áp dụng nguyên tắc sau: Những vật liệu mới phủ bên trên và đất chôn vùi được phân loại như là một loại đất nếu cả hai có những hạng định chung với nhau như: Histosol, Technosol, Cryosol, Leptosol, Vertisol, Fluvisol, Gleysol, Andosol, Planosol, Stagnosol or Arenosol. - Mặt khác, vật liệu mới này được phân loại ở cấp đầu tiên nếu những vật liệu này ở trong vòng 50 cm hoặc dày hơn hoặc nếu vật liệu này đứng độc lập, phù hợp với yêu cầu của một nhóm đất tham khảo khác hơn là một Regosol. - Trong tất cả các trường hợp khác, đất chôn vùi được phân loại ở cấp đầu tiên. Nếu đất phủ bên trên được phân loại ở cấp đầu tiên, đất chôn vùi bên dưới được nhận dạng với tiếp đầu ngữ Thapto và –ic được thêm vào tên của nhóm đất tham khảo của nhóm đất chôn vùi. Toàn bộ được đặt trong dấu ngoặc đơn sau tên của đất phủ bên trên. Ví dụ Technic Umbrisol (Greyic) (Thapto-Podzolic). Nếu đất chôn vùi được phân loại ở cấp đầu tiên, vật liệu bao phủ bên trên được chỉ ra với hạng định Novic. Cẩm nang Hướng dẫn mô tả đất (FAO, 2006) được đề nghị sử dụng để mô tả đất và những đặc trưng của nó. Nó hữu dụng để liệt kê sự hiện diện và độ sâu của tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán cũng được nhận dạng. Sự phân loại ngoài đồng cung cấp đánh giá sơ bộ bằng cách sử dụng tất cả sự quan sát hoặc các đặc tính và đặc trưng của đất được đo lường dễ dàng và kết hợp với địa hình. Sự phân loại cuối cùng được làm khi dữ liệu phân tích đã sẵn sàng. Theo Van Reeuwijk (2006), đề nghị sử dụng phương pháp phân tích đất để xác định các đặc tính lý hóa học đất. Ví dụ: phân loại đất theo WRB Một loại đất có tầng chẩn đoán Ferralic, sa cấu ở trên tầng Ferralic thay đổi từ cát pha thịt đến cát pha sét trong vòng 15cm. pH ở giữa 5.5 và 6, độ bão hòa base ở mức độ cao. Tầng B có màu đỏ đậm, ở dưới 50cm xuất hiện các vết. Sự phân loại ở ngoài đồng của loại đất này là Lixic Ferralsol (Ferric, Rhodic). Nếu phân tích tiếp trong phòng thí nghiệm mà sự thay đổi cation (CEC) của tầng Ferrlic nhỏ hơn 4 cmol/kg sét, thì loại đất này cuối cùng phân loại như là Lixic Vetic Ferralsol (Ferric, Rhodic). Tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán Bảng 1.1: Các tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán đất theo WRB ( FAO, 2006) Tầng chẩn đoán Albic Natric Anthraquic Nitic Anthric** Petrocalcic Argic Petroduric Calcic Petrogypsic Cambic Petroplinthic Cryic Pisoplinthic** Duric Plaggic Ferralic Plinthic Đặc tính chẩn đoán Abrupt textural change Albeluvic tonguing Andic** Aridic Continuous rock** Ferralic Geric Gleyic colour pattern Lithological Vật liệu chẩn đoán Artefacts** Calcaric Colluvic** Fluvic Gypsiric Limnic** Mineral** Organic Ornithogenic** discontinuity** Reducing conditions** Secondary carbonates Stagnic colour pattern Vertic** Vitric** Ferric Salic Sulphidic Folic Sombric** Technic hard rock** Fragic Spodic Tephric Fulvic Takyric Gypsic Terric Histic Thionic ** Hortic Umbric Hydragric Vertic Irragric Voronic** Melanic Yermic Mollic ** Tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán mới (Nguồn: FAO, 2006) Theo WRB (FAO, 2006a), thì các tầng chẩn đoán: Andic, Chernic, Ochric, Sulfuric, Vitric; Đặc tính chẩn đoán: Alic, Continuous hard rock, Permafrost, Strongly humic; Vật liệu chẩn đoán: Anthropogeomorphic đã được lược bỏ. Các tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán mới thêm vào so với hệ thống WRB (FAO, 1998), đó là: tầng chẩn đoán: Anthric, Pisoplinthic, Sombric, Thionic, Voronic; đặc tính chẩn đoán: Andic, Continuous rock, Lithological discontinuity, Reducing conditions, Vertic, Vitric; vật liệu chẩn đoán: Artefacts, Colluvic, Limnic, Mineral, Ornithogenic, Technic hard rock. Những nhóm đất tham khảo trong WRB (FAO, 2006) Bảng 1.2: Những nhóm đất tham khảo của WRB ( FAO, 2006) Nhóm đất Acrisols Ký hiệu AC Nhóm đất Chernozems Ký hiệu CH Nhóm đất Kastanozems Ký Nhóm Ký hiệu đất hiệu KS Podzols PZ

No comments:

Post a Comment