Thursday, March 24, 2016

Môi trường và Tài nguyên

Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên người vào cảnh không nhà cửa. Tính ra, thiên tai đã cướp đi mạng sống của hơn 220.000 người trong năm 2008 và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thành một trong những năm đáng sợ nhất trong lịch sử loài người tính theo tổn thất thiên tai về người và của. Diễn biến mới nhất của thiên tai là trận cháy rừng khủng khiếp do thời tiết quá khô hạn vừa xãy ra ở nước Úc (2/2009) đã giết chết ít nhất 210 người và làm bị thương hơn 500 người cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất. Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90%.cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất. Trái đất ngày càng nóng dần lên.Từ năm 1950-1990, lượng CO2 tăng lên 4 lần C làm mặt trái đất nóng lên từ 0,5- 4 ° , nước biển dâng cao từ 25-140cm do lượng băng tan và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫn đến nghèo đói, đặc biệt là các nước đang phát triển. Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như bão, lũ lụt, hỏa hoạn,....Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Ví dụ các trận hỏa hoạn tự nhiên không kiểm soát được vào các năm từ 1996 đến 1998 đã thiêu hủy nhiều khu rừng ở Brazil, Canada, khu tự trị nội Mông Cổ ở Đông Bắc Trung Quốc, Inddonexia, Italia,Mêhico, Liên Bang Nga và Mỹ. Những tác động của các vụ cháy rừng có thể rất nghiêm trọng. Chi phí ước tính cho nạn cháy rừng của người dân Đông Nam Á là 1,4 tỉ USD. Trong tương lai khi trái đất nóng dần lên do tác động của con người mà cụ thể là do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá trong công nghiệp dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong không khí và dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Nhìn chung lượng phát thải tăng lên trong các lĩnh vực chính trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đó chính là hệ quả của tốc độ phát triển và tỷ lệ tăng dân số ở nước ta hiện nay.Lượng phát thải CO2 do tiêu thụ năng lượng và sản xuất ximang của năm 1993 tăng hơn so với 1990, trong khi đó lượng CO 2 do các hoạt động lâm nghiệp tăng không đáng kể. Trong khu vực nông nghiệp, lượng phát thải CH4 trong chăn nuôi có những sai khác nhiều trong năm 1990. CO2 và CH4 là hai loại khí nhà kính chính ở nước ta hiện nay. Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 11 Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên Với những nguyên nhân trên, thiên tai không chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng cao mà quy mô gây thiệt hại cho con người ngày cang lớn. Ví dụ, tháng 12/1999, hai trận mưa lớn ở Vênêzuêla đã làm cho 50.000 người chết và 200.000 người không có nhà ở.Cũng trong năm đó một cơn bảo đã cướp đi mạng sông của 10.000 người ở Orissa(Ấn Độ) và một trận động đất đã tàn phá đất nước Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt gần đây nhất , vào 26/1/2001 thảm họa động đất ở Ấn Độ đã làm cho 30.000 người chết và hàng vạn người bị thương gây thiệt hại rất lớn về tiền của... Suy giảm tầng ôzôn mà hệ quả của nó là con người bị đục thủy tinh thể, Dự tính đến năm 2050 trái đất ngập thêm trong nước. Để chống suy giảm tầng ôzôn, các nước đã ký nghị định thư Montreal. Mỹ là một trong các quốc gia sản xuất chất CFC nhiều nhất lại không tham gia ký nghị định thư này. Một trong các biện pháp hạn chế những nguy cơ trên là thay đổi tập quán sử dụng, không để xảy ra cháy rừng, không đổ rác thải bừa bãi, không sản xuất chất CFC. 1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và những tác hại: Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm thường vượt quá 20oC, lượng mưa trung bình 1500mm. Mùa lạnh và khô từ tháng 11-4, còn mùa nóng và mưa diễn ra từ tháng 5-10. Tuy nhiên các chỉ số này thay đổi theo chiều dài đất nước và theo cả địa hình cho nên mùa mưa với lũ lụt và mùa khô với hạn hán thưòng mang tính cực đoan và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Việt Nam nằm dọc theo đường di chuyển bão Tây-Bắc Thái Bình Dương và là một trong 10 nước trên thế giới được coi là dễ bị tổn thương nhất trước áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 6-7 trận bão hay áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng bờ biển của Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam cho thấy, từ năm Từ 1900 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm tăng 0,1°C một thập kỷ. Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0,1°C đến 0,3°C một thập kỷ. nếu so với năm 1990, nhiệt độ chắc sẽ tăng trong khoảng từ 1,4-1,5°C vào năm 2050 và từ 2,52,8°C vào năm 2100. Điều này cho thấy xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 12 Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên lên. Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở phía Bắc. Sự biến đổi thất thường của thời tiết còn được thể hiện qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh miền Bắc. Ví dụ: từ ngày 30/10 đến chiều 01/11/2008. Tại thủ đô Hà Nội lượng mưa lên tới gần 500mm đã gây ra cảnh úng lụt trầm trọng, thiệt hại cả về người và tài sản của nhân dân. Mùa khô sẽ càng sâu sắc và có nguy cơ biến các vùng dễ bị tổn thương như Nam Trung bộ thành bán hoang mạc. Phần lớn diện tích vùng ven bờ của Việt Nam bị đe doạ ngập lụt hàng năm, trong đó đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 75% tổng diện tích, và 10% diện tích của đồng bằng Sông Hồng. Ở một số khu vực như các tỉnh miền Trung và đồng bằng Sông Cửu Long, lũ xuất hiện với cường độ ngày càng tăng. Các trận bão gần đây mà Việt Nam phải hứng chịu đã trở nên khốc liệt và quỹ đạo các trận bão dường như đã chuyển hướng về phía Nam, vốn là những mảnh đất an toàn, trong những năm gần đây. Theo Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (1993) mực nước biển bao quanh Việt Nam đã dâng cao 5cm từ giữa 1960 đến những năm 1990. Tổng cục Khí tượng-Thuỷ văn ước tính mực nước biển đang dâng cao với tốc độ trung bình là 2mm/năm. Xói lở bờ biển cũng đã và dang xãy ra, ví dụ ở Cà Mau có một số địa phương bị xói lở 600 ha, với các dải đất rộng 200m bị mất. Mực nước biển dâng cao chắc chắn còn làm cho tình trạng xâm mặn ở các vùng ven biển trở nên tồi tệ, gây nên sự khó khăn trong khai thác nước ngọt phục vụ tưới và sinh hoạt. Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa cả nước với hơn 1.5 triệu ha đất nhiễm mặn, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất. Biến đổi khí hậu chắc chắn có tác động đáng kể đến nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam, với sự biến mất các loài cá quý hiếm, làm suy giảm mạnh sinh vật phù du sẽ dẫn đến tình trạng di cư và giảm mạnh khối lượng lớn cá. Do mực nước biển dâng cao, các trại nuôi trồng thuỷ sản buộc phải di dời và kéo theo đó là việc phải tái đầu tư vốn, thay đổi tập quán cũng như định cư sản xuất. Miền Trung Việt Nam là khu vực hay bị thiên tai nhất ở Việt Nam và có tỷ lệ nghèo cao. Hàng năm, khu vực này phải đương đầu với mọi loại hình thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Chỉ riêng trận lụt lịch sử diễn ra vào cuối năm 1999 đã cướp đi 800 sinh mạng và gây thiệt hại hơn 300 triệu USD. Thêm vào đó, chúng ta hẳn vẫn còn nhớ đến sự tàn phá của cơn bão Xangsane (tháng 10/2006) với sức gió mạnh lên đến trên cấp 13 (149km/h), gió Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 13 Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên giật lên đến 205km/h làm sóng biển dâng cao 7m. Trận bão này hầu như đã làm các tỉnh miền Trung “xơ xác”, đặc biệt là các địa phương như Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi với hơn 20 vạn người chạy đi lánh nạn, hàng trăm người chết và bị thương, thiệt hại về tài sản do cơn bão lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Ở một mặt khác, Việt Nam gần đây đã đạt được những tiến bộ ngoạn mục cả về tăng trưởng kinh tế lẫn giảm nghèo. Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới vào năm 2007, giao dịch thương mại quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng, tạo điều kiện để Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên nền kinh tế định hướng thị trường của Việt Nam cũng làm gia tăng cách biệt giàu nghèo giữa vùng sâu, vùng xa và các cực tăng trưởng như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Do vậy, người nghèo vốn sống lệ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên, thường phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu, và tác động của nó có thể đem lại những hậu quả đáng kể và lâu dài đối với khả năng ứng phó tổng thể của Việt Nam trong tương lai. Có thể khẳng định rằng thiên tai là trở ngại chính trên con đường đi tới phát triển bền vững và đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) ở Việt Nam. 1.3 Nhận thức của cộng đồng quốc tế về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto Ý thức về những tác hại do con người gây ra cho môi trường trái đất, gần đây đã có sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực ngăn chặn những ảnh hưởng nguy hại do biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiều diễn đàn quốc tế đã ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, doanh nghiệp, chính trị cũng như các nhà hoạch định chính sách đối ngoại như Liên hợp quốc, WTO, EU, ASEM, APEC, ASEAN..., một điều chắc chắn rằng những thoả thuận kinh tế, chính trị, thương mại song phương hoặc đa phương gắn liền với vấn đề biến đổi khí hậu luôn nhận được sự tán thành và hợp tác. Những cam kết quốc tế được cụ thể hoá vào năm 1997 khi Nghị định thư Kyoto ra đời và chính thức có hiệu lực vào năm 2005 liên quan đến Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên Hiệp Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Kể từ tháng 11/2007 đã có Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 14 Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên khoảng 175 nước kí kết tham gia chương trình này. Nghị định thư Kyoto ràng buộc 37 quốc gia phát triển đến năm 2012 phải cắt giảm khí thải xuống 5% so với mức của năm 1990. Nghị định thư cũng được khoảng 137 nước đang phát triển tham gia kí kết trong đó có Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ vốn là những nền kinh tế mới nổi và có lượng khí phát thải cao. Sự kiện chính phủ Nga, nước chiếm 17% lượng khí thải phê chuẩn Nghị Định Thư vào năm 2004, và chính phủ Úc ký kết Nghị Định Thư vào năm 2007, đã gây sức ép buộc Mỹ (nước chiếm 25% khí thải ) - hiện là quốc gia phát triển duy nhất không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto - phải thay đổi quan điểm trong thời gian đến. Thế giới hy vọng thái độ tích cực và sự tham gia có trách nhiệm của Mỹ sẽ được thể hiện khi chính phủ của Tổng Thống Obama tham gia hội nghị Copenhagen vào tháng 12 năm nay. Như vậy, Nghị định thư Kyoto được mong đợi sẽ là một thành công trong vấn đề cắt giảm khí gây hiệu ứng nhà kính. Mục tiêu được đặt ra nhằm "Cân bằng lại lượng khí thải trong môi trường ở mức độ có thể ngăn chặn những tác động nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường”. Trong những năm tới, xu thế chung của hợp tác quốc tế và khu vực để đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu sẽ được tăng cường, tập trung vào quá trình thiết lập cơ chế hợp tác, nghiên cứu và đánh giá tác động, xây dựng biện pháp phòng ngừa và nghiên cứu công nghệ, năng lượng mới. Mặc dù vậy, quá trình hợp tác sẽ còn gặp nhiều khó khăn, trắc trở do còn nhiều sự khác biệt về lợi ích giữa các nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu (cơ bản là việc giảm chất thải gây hiệu ứng nhà kính hoặc sử dụng tiết kiệm nhiên liệu có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế của nhiều nước), việc sản xuất theo Chương trình cơ cấu phát triển sạch (The Clean Development Mechanism - CDM ) đòi hỏi đầu tư lớn và công nghệ phức tạp... Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 158/2008/QĐ – Thủ Tướng phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu và ngày 12/01/2009, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường chính thức công bố Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu. Mục tiêu chiến lược của Chương trình là đánh giá được mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 15 Chuyên đề: Thách thức về môi trường và tài nguyên dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Loài người đang đứng trước những thách thức lớn. Theo Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon, loài người đang sống trong kỷ nguyên không an toàn. Tại cuộc họp của Ðại hội đồng LHQ ngày 11-1, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nêu rõ những ưu tiên hàng đầu của ông trong năm 2010 là thúc đẩy phát triển bền vững và đạt được một hiệp định mang tính ràng buộc về biến đổi khí hậu. Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon đã chính thức phát động "Năm quốc tế đa dạng sinh học" 2010, với thông điệp "Ða dạng sinh học là cuộc sống. Ða dạng sinh học là cuộc sống của chúng ta". Ông cho rằng, thất bại trong việc bảo vệ thiên nhiên đã ở mức báo động, vì thế tất cả các quốc gia và mọi người cần phải tham gia "liên minh bảo vệ cuộc sống trên Trái đất". Ông cho biết, Ðại hội đồng LHQ sẽ triệu tập hội nghị cấp cao đặc biệt về chủ đề này vào tháng 9-2010, trước Hội nghị cấp cao về đa dạng sinh học ở Na-gôi-a, Nhật Bản. Ông cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy nhanh các nỗ lực nhằm đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) vào năm 2015, trong đó chú trọng vào việc đầu tư cho phát triển, tăng cường an ninh và cải thiện cuộc sống của người dân. Tổng Thư ký LHQ nêu rõ rằng, loài người đang sống trong một kỷ nguyên không an toàn. Mặc dù kinh tế nhiều nước đã phát triển mạnh, song hiện vẫn còn nhiều người phải sống trong cảnh nghèo khổ và xung đột vũ trang vẫn diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới gây ra những thảm cảnh trong khi biến đổi khí hậu kéo lùi sự phát triển và đang đẩy hàng trăm triệu người vào cảnh nghèo đói và bệnh dịch chết người. 1.4 Chống biến đổi khí hậu Hồ Thị Mỹ - Địa 1A ĐHSP Huế 16

No comments:

Post a Comment