Wednesday, March 16, 2016
236852
11
đất nằm ngoài phạm vi 100 mét tính từ chân taluy lộ được xác định theo giá đất khu
vực 3 của đất ở tại nông thôn;
- Giá đất ở khu vực 3 tại nông thôn được tính bằng tổng diện tích của đất theo
từng vị trí nhân với bảng giá đất quy định tại khoản 2 Điều 13 của Quy định giá các
loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2010/QĐUBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp)
- Xử lý một số trường hợp cụ thể về giá đất ở nông thôn:
+ Thửa đất có vị trí tiếp giáp từ 2 lộ trở lên thì được xác định theo giá đất của loại
lộ có giá đất cao nhất; thửa đất nằm cùng trên nhiều khu vực hoặc vị trí đất khác nhau
thì được tính theo giá đất của khu vực, vị trí có giá đất cao nhất.
+ Đối với thửa đất thuộc khu vực 1 và khu vực 2 mà phần mặt tiền tiếp giáp với
các trục lộ là mương lộ có chiều rộng dưới 3 mét (không phân biệt đã tự san lấp hay
chưa san lấp) hoặc đường dân sinh thì giá đất được tính bằng giá đất của thửa đất tiếp
giáp với lộ giao thông; tính bằng 80% giá của thửa đất tiếp giáp với trục lộ nếu chiều
rộng của mương lộ rộng từ 3 mét trở lên. Trường hợp mương lộ đã san lấp toàn tuyến
thì giá đất được tính bằng giá đất quy định ở khoản 2 Điều 13 của Quy định giá các
loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2010/QĐUBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp)
+ Việc xác định giá đất ở theo các quy định tại điểm a, điểm b, khoản 3 Điều này
nếu thấp hơn giá đất tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 13 của Quy định giá các loại
đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2010/QĐUBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì được
tính bằng mức giá đất tối thiểu
1.1.4. Các loại giá đất
Thông thường đất được hình thành ở 2 loại giá: Giá theo qui định của Nhà
nước và giá đất theo nhu cầu và tâm lý của người mua.
a. Giá đất theo qui định của Nhà nước
Giá đất do Nhà nước qui định nằm trong khung giá chung của cả nước, loại
giá này dựa trên cơ sở phân hạng định giá trị của đất dựa vào các yếu tố đã qui định
và tùy thuộc vào từng vùng, khu vực cũng như điều kiện cụ thể của từng địa phương
mà hình thành. Dựa trên cơ sở này Nhà nước qui định mức thuế cho người sử dụng
đất.
12
b. Giá đất dựa vào nhu cầu và tâm lý của người mua bán hay sang nhượng
Giá đất dựa vào nhu cầu và tâm lý của người mua bán hay sang nhượng, là
loại giá không ổn định, không có cơ sở vững chắc về mặt phân hạng cũng như pháp
lý mà chủ yếu dựa vào sự ước đoán, vào thị hiếu hay sở thích và tâm lý của người sử
dụng. Loại giá này thông thường cũng dựa trên cơ sở khung giá qui định của Nhà
nước mà hình thành nhưng ở mức cao hoặc thấp hơn, thường bằng giá Nhà nước + sự
chênh lệch do nhu cầu và tâm lý của người mua và người bán.
Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện, giá đất được chia theo loại đất và
mục đích sử dụng đất. Giá đất được hình thành gồm có ba loại sau:
- Giá đất nông nghiệp: Được quy định theo khung giá chung bao gồm các loại đất
dùng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Giá đất phi nông nghiệp: Bao gồm giá đất ở, giá đất dùng cho hoạt động sản xuất
kinh doanh không liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Giá đất chưa sử dụng: Là giá đất được đưa ra để định giá cho hoạt động cho thuê
sử dụng đối với đất trống chưa xác định mục đích sử dụng.
1.1.5. Sự cần thiết quản lý giá đất
Hoạt động mua bán, sang nhượng đất đai diễn ra ngày càng nhiều trên thị
trường. Việc bình ổn thị trường nhà đất là một việc hết sức cần thiết và quan trọng.
Nếu giá đất được bình ổn thích hợp sẽ dẫn đến việc bình ổn thị trường nhà đất và làm
cho thị trường phát triển mạnh mẽ. Khi thị trường đất đai được phát triển ổn định sẽ
góp phần vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế thị trường chung của cả nước.
Chính vì vậy, việc quản lý giá đất một cách hiệu quả là một việc rất cần thiết và là
yếu tố quan trọng nhất góp phần bình ổn thị trường nhà đất.
1.2. Tổng quan về GIS
1.2.1 Khái niệm
Từ các cách tiếp cận khác nhau nhiều nhà khoa học đã có những định nghĩa
khác nhau về GIS:
- GIS là một Hệ thống thông tin đặc biệt với cơ sở dữ liệu gồm những đối
tượng, những hoạt động hay những sự kiện phân bố trong không gian được biểu diễn
như những điểm, đường, vùng trong hệ thống máy tính. Hệ thống thông tin địa lý xử
lý, truy vấn dữ liệu theo điểm, đường, vùng phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích
đặc biệt (Dueker, 1979).
13
- GIS là một kỹ thuật quản lý các thông tin dựa vào máy vi tính được sử dụng
bởi con người vào mục đích lưu trữ, quản lý và xử lý các số liệu thuộc địa lý hoặc
không gian nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau (Võ Quang Minh, 2005).
- Ngoài ra còn có một số định nghĩa sau:
Định nghĩa theo chức năng: GIS là một hệ thống bao gồm 4 hệ con: Dữ liệu
vào, quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu và dữ liệu ra.
Định nghĩa theo khối công cụ: GIS là tập hợp phức tạp của các thuật toán.
Định nghĩa theo mô hình dữ liệu: GIS gồm các cấu trúc dữ liệu được sử dụng
trong các hệ thống khác nhau (cấu trúc dạng Raster và Vecter).
Định nghĩa về mặt công nghệ: GIS là công nghệ thông tin để lưu trữ, phân tích
và trình bày các thông tin không gian và thông tin phi không gian, công nghệ GIS có
thể nói là tập hợp hoàn chỉnh các phương pháp và các phương tiện nhằm sử dụng và
lưu trữ các đối tượng.
Định nghĩa theo sự trợ giúp và ra quyết định: GIS có thể coi là một hệ thống trợ
giúp việc ra quyết định, tích hợp các số liệu không gian trong một cơ chế thống nhất.
1.2.2 Thành phần:
Theo Võ Quang Minh (2005), GIS gồm các thành phần:
a. Trang thiết bị
Là các phần vật lý của máy tính, bao gồm các thiết bị xử lý và thiết bị ngoại vi.
Thiết bị bao gồm máy vi tính, máy vẽ, máy in, bàn số hoá, thiết bị quét ảnh, các
phương tiện lưu trữ số liệu …
b. Phần mềm
Là tập hợp các câu lệnh, chỉ thị nhằm điều khiển phần cứng của máy tính thực
hiện một nhiệm vụ xác định, phần mềm hệ thống thông tin địa lý có thể là một hoặc
tổ hợp các phần mềm máy tính, phần mềm sử dụng trong kỹ thuật GIS phải bao gồm
các tính năng:
Nhập và kiểm tra dữ liệu
Lưu trữ và quản lý cơ sở dữ liệu
Xuất dữ liệu
Biến đổi dữ liệu
Tương tác với người dùng
c. Số liệu và dữ liệu địa lý
14
Có 2 dạng số liệu được sử dụng trong kỹ thuật GIS là cơ sở dữ liệu thông tin
không gian và thông tin thuộc tính.
+ Cơ sở dữ liệu không gian: Là những mô tả hình ảnh bản đồ được số hoá
theo một khuôn dạng nhất định mà máy tính hiểu được. Hệ thống thông tin địa lý
dùng cơ sở dữ liệu này để xuất ra các thiết bị ngoại vi khác như máy in, máy vẽ. Có 2
loại số liệu đó là số liệu Vector và số liệu Raster:
- Số liệu Vector: Được trình bày dưới dạng điểm, đường và vùng, mỗi dạng
có liên quan đến một số liệu thuộc tính được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu thuộc tính
được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu.
- Số liệu Raster: Được trình bày dưới dạng lưới ô vuông hay ô chữ nhật đều
nhau, giá trị được ấn định cho mỗi ô sẽ chỉ định giá trị của thuộc tính. số liệu của ảnh
vệ tinh và số liệu của bản đồ được quét là số liệu Raster.
+ Cơ sở dữ liệu thuộc tính: Là những thông tin về tính chất, đặc điểm và các
yếu tố nhận biết của đối tượng địa lý, bao gồm các biểu mẫu, các diễn giải về những
đặc tính khối lượng hay bản chất cử các mối liên quan những thông tin bản đồ với vị
trí đích thực của nó. Các thông tin thuộc tính được lưu trữ, quản lý và trình bày trong
hệ thống thông tin địa lý dưới dạng số, các ký tự, ký hiệu hay biểu thức logic để mô
tả các thuộc tính thuộc về các thông tin địa lý.
d. Chuyên viên
Đây là một trong những hợp phần quan trọng của công nghệ GIS, đòi hỏi
những chuyên viên phải có kiến thức về các số liệu đang sử dụng và thông thạo về
việc chọn các công cụ GIS để thực hiện các chức năng phân tích - xử lý các số liệu.
e. Chính sách và cách thức quản lý
Đây là một trong những hợp phần quan trọng để đảm bảo khả năng hoạt động
của hệ thống, là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS.
Hệ thống GIS cần được điều hành bởi một bộ phận quản lý, bộ phận này phải được
bổ nhiệm để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách có hiệu quả để phục vụ người
sử dụng thông tin.
1.2.3 Ứng dụng thực tiễn của GIS
Theo Võ Quang Minh (2005), Ở nước ta kỹ thuật GIS thực tế đã được biết đến
khoảng 7 đến 8 năm trở lại đây. Ở ĐBSCL, công nghệ GIS được đưa vào sử dụng từ
chương trình cấp nhà nước trong đánh giá tài nguyên thiên nhiên vào năm 1986, từ
15
năm 1991 sau khi các tỉnh thành lập sở địa chính để quản lý các thông tin thì công
nghệ GIS mới thật sự đưa vào sử dụng và thực hiện ở vài tỉnh, hiện nay được sử dụng
thành công trong việc lưu trữ hồ sơ địa chính.
Hoàng Văn Đôn (2006), các ứng dụng trên Mapinfo bằng ngôn ngữ lập trình
Mapbasic để theo dõi hiện trạng sử dụng đất của từng khu vực trên bản đồ hiện trạng,
cho biết giá của thửa đất ở từng vị trí trên một tuyến đường đã chọn, cập nhật giá tự
động cho tất cả các bản đồ theo từng năm đã chọn, tính tiền bồ thường thiệt hại về
đất theo năm bất kỳ, cho phép người sử dụng so sánh được giá của cùng một thửa đất
theo 2 năm bất kỳ trên một tuyến đường. Đề tài còn hạn chế chưa cập nhật giá tự
động cho một vùng rộng lớn.
Lê Minh Phương (2006), xây dựng được một tiện ích bằng ngôn ngữ
MapBasic có thể sử dụng để hỗ trợ thực hiện việc tính toán giải tỏa bồi hoàn mà
không cần phải lặp lại nhiều thao tác hoặc công đoạn trên phần mềm MapInfo như:
chồng lắp bản đồ, xác định đối tượng mục tiêu, tạo vùng đệm, cắt bản đồ, tính diện
tích bị giải tỏa, tính tổng bồi hoàn.
1.2.4. Tầm quan trọng của GIS trong việc quản lý đất đai
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý đất đai là một việc rất
cần thiết và quan trọng. Công nghệ GIS ngày càng phát trển và đạt nhiều thành tựu
quan trọng. GIS ngày nay trở thành công cụ đắc lực phục vụ hiệu quả cho công tác
quản lý đất đai. Quản lý đất đai là một lĩnh vực quan trọng, chính sự phát triển của
công nghệ GIS góp phần phục vụ hiệu quả cho việc quản lý đất đai.
Bên cạnh đó thì đứng trước những biến đổi không ngừng của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện kỹ thuật cũng
như các hệ phần mềm. Chính điều này thúc đẩy sự phát triển của công nghệ GIS. Và
việc quản lý đất đai cũng cần có những bước chuyển đổi phù hợp hơn. Ứng dụng GIS
vào quản lý đất đai là một điều quan trọng và cần thiết.
1.3. Giới thiệu về MapInfo
1.3.1. Sơ lược về MapInfo
Theo Phạm Trọng Mạnh (1999), Phần mềm Mapinfo là một công cụ khá công
hiệu để tạo ra và quản lý cơ sở dữ liệu địa lý vừa và nhỏ trên máy tính cá nhân. Sử
dụng công cụ Mapinfo có thể thực hiện xây dựng một hệ thống thông tin địa lý, phục
vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học và sản xuất cho tất cả các tổ chức kinh tế xã
16
hội của ngành và của địa phương. Ngoài ra Mapinfo là một phần mềm tương đối gọn
nhẹ và dễ sử dụng, đặc biệt, dùng cho mục đích giảng dạy về GIS rất hiệu quả.
1.3.2. Tổ chức thông tin bản đồ trong MapInfo
Theo Phạm Trọng Mạnh (1999), Các thông tin trong Mapinfo được tổ chức theo
từng bảng, mỗi bảng là một tập hợp các file về thông tin đồ hoạ chứa các bảng ghi dữ
liệu mà hệ thống tạo ra. Chỉ có thể truy cập vào các chức năng của phần mềm
Mapinfo, Table mà trong đó có chứa các tập tin sau đây:
+ Tập tin .tab chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu, đó là các file ở dạng
văieät nam bản mô tả khuôn dạng của file lưu trữ thông tin.
+ Tập tin .dat chứa các thông tin nguyên thuỷ, phần mở rộng của thông tin này
có thể là *wks, dbf, xls, … nếu chúng ta làm việc với thông tin nguyên thuỷ là các số
liệu từ Lotus 1 2 3, dbase/foxbase và excel.
+ Tập tin .map bao gồm các thông tin mô tả các đối tượng địa lý.
+ Tập tin .id bao gồm các thông tin về sự liên kết các đối tượng với nhau.
+ Tập tin .ind chứa các thông tin về chỉ số đối tượng. Tập tin này chỉ có khi
trong cấu trúc của Table đã có ít nhất một trường dữ liệu đã được chọn làm chỉ số
khoá (index). Thông qua các thông tin của file này chúng ta có thể thực hiện tìm kiếm
thông tin thông qua một chỉ tiêu cho trước bằng chức năng file của Mapinfo.
1.3.3. Tổ chức thông tin theo các lớp đối tượng
Theo Nguyễn Thế Thận (1999), Các thông tin bản đồ trong GIS thường được
tổ chức quản lý theo từng lớp đối tượng. Mỗi Hệ thống thông tin địa lý. Mỗi một lớp
thông tin chỉ thể hiện một khía cạnh của mảnh bản đồ tổng thể. Lớp thông tin là một
tập hợp các đối tượng bản đồ thuần nhất, thể hiện và quản lý các đối địa lý trong
không gian theo một chủ đề cụ thể, phục vụ một mục đích nhất định trong hệ thống.
Với các tổ chức thông tin theo từng lớp đối tượng như vậy đã giúp cho phần mềm
Mapinfo xây dựng thành các khối thông tin độc lập cho các mảnh bản đồ máy tính
điều đó giúp cho phần mềm Mapinfo xây dựng thành các khối thông tin độc lập cho
các mảnh bản đồ máy tính điều đó giúp chúng ta thêm vào mảnh bản đồ đã có các lớp
thông tin mới hoặc xoá đi các lớp đối tượng khi không cần thiết.
Các đối tượng bản đồ chính mà trên cơ sở đó Mapinfo sẽ quản lý, trừu tượng
hoá các đối tượng địa lý trong thế giới thực vật và thể hiện chúng thành các loại bản
đồ khác nhau.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment