Sunday, March 27, 2016
Quy trình kiểm toán bán hàng - thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính của kiểm toán nội bộ các đơn vị hạch toán độc lập tại Tổng công ty Sông Đà
phòng liên quan đến khoản nợ không thu hồi đợc, chi phí bán hàng, giá vốn hàng
bán, xử lý các khoản nợ không có khả năng thu hồi.
Hệ thống sổ kế toán:
Hệ thống này dùng để ghi các nghiệp vụ bán hàng-thu tiền và các nghiệp vụ
khác có liên quan, phát sinh trong một niên độ kế toán mà cơ sở để ghi sổ là các
chứng từ đã đợc lập trớc đó bao gồm: Nhật ký bán hàng, các sổ hạch toán chi tiết
nợ phải thu khách hàng, nhật ký thu tiền, sổ chi phí bán hàng, sổ hạch toán chi tiết
hàng tồn kho..
Hệ thống báo cáo kế toán:.
Hệ thống này đợc lập với mục đích thông tin cho các nhà quản lý cấp trên
nắm bắt đợc toàn bộ kết quả của chu trình qua một niên độ kế toán nhất định hay
qua một thời kỳ nhất định. Cụ thể đó là các báo cáo tài chính nộp cho cơ quan
thuế, cho Bộ chủ quản, cho Tổng công tyhay các báo cáo bán hàng, tình hình
thanh toán nợ của khách hàng.. cung cấp cho Ban quản trị hay Ban giám đốc biết
hoặc những ngời quan tâm.
Thủ tục kiểm soát:
Thủ tục kiểm soát là những chính sách và thủ tục do Ban giám đốc đơn vị
thiết lập và thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu quản lý cụ thể. Khi thiết lập thủ tục
kiểm soát phải đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc bất kiêm nhiệm,
nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng, nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn.
Ngoài ra, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc quy định chứng từ, sổ sách phải
đầy đủ, quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản, sổ sách và kiểm soát độc lập
việc thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Đặc biệt đối với chu trình bán hàng và thu tiền, việc hiểu đợc những đặc
điểm cũng nh những biểu hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ đã góp phần nâng
cao chất lợng, hiệu quả kiểm toán chu trình này. Đó cũng là lý do để chúng ta
nhận thức đợc tầm quan trọng của những thông tin trên trong khi đi vào thực hành
kiểm toán chu trình.
1.3. Mục tiêu kiểm toán bán hàng- thu tiền.
Chức năng của kiểm toán đã đợc cụ thể hoá thành các mục tiêu kiểm toán.
Do chu trình bán hàng và thu tiền đợc cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ thể và từ đó
hình thành các khoản mục trên các Báo cáo tài chính nên các mục tiêu đặc thù của
kiểm toán bán hàng và thu tiền cần cụ thể hoá cả mục tiêu kiểm toán tài chính và
mục tiêu kiểm toán nghiệp vụ phù hợp với các đặc điểm của phần hành kiểm toán
này. Mặt khác, mặc dù các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền có quan hệ chặt chẽ và
tạo nên chu trình xác định, song mỗi loại nghiệp vụ này lại có yêu cầu riêng và
phản ánh cụ thể vào sổ sách kế toán riêng theo trình tự độc lập tơng đối. Do đó,
mục tiêu đặc thù cho các khoản mục, nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thu tiền
cần có định hớng cụ thể qua các mục tiêu kiểm toán đặc thù riêng biệt. Có thể
khái quát các mục tiêu kiểm toán đặc thù phổ biến của 2 loại nghiệp vụ và khoản
mục này theo bảng sau:
Bảng số 2: Mục tiêu kiểm toán đặc thù của kiểm toán nghiệp vụ
bán hàng và nghiệp vụ thu tiền
Mục tiêu kiểm toán
nghiệp vụ
thu tiền
Các khoản thu tiền đều
đảm bảo hợp lý chung
Mục tiêu kiểm
Mục tiêu kiểm toán nghiệp
Toán chung
vụ bán hàng
Mục tiêu hợp
lý chung
Các nghiệp vụ bán hàng đều
có căn cứ hợp lý
Các mục tiêu
chung khác
Các khoản phải thu khách
hàng là có thực
Hiệu lực
Hàng bán vận chuyển đến
khách hàng là có thật
Mọi khoản phải thu ở khách
hàng đều đợc ghi sổ
Trọn vẹn
Mọi nghiệp vụ bán hàng đều
đợc ghi sổ
Định giá
Hàng đã vận chuyển và có hoá
đơn ghi giá bán đợc thoả
thuận
Các khoản phải thu đợc
đánh giá đúng
Các khoản phải thu có ngời sở hữu
Các khoản phải thu đợc
phân loại đúng
Quyền và
nghĩa vụ
Phân loại
Hàng hoá đã bán thuộc sở hữu
của đơn vị
Các nghiệp vụ bán hàng đợc
phân loại thích hợp
Các khoản phải thu đợc
tính toán đúng
Chính xác
cơ học
Các nghiệp vụ ghi vào sổ tổng
hợp, chi tiết thích hợp và khớp
đúng các số cộng
Các mục tiêu
kiểm toán nghiệp vụ
Những thay đổi về thể thức, thời
gian, thủ tục thanh toán tiền hàng
đều đợc cho phép đúng đắn
Các nghiệp vụ phải thu đợc ghi sổ đúng kỳ
Cho phép
Kịp thời
Các nghiệp vụ bán hàng kể cả
bán chịu, vận chuyển đợc cho
phép đúng đắn
Các khoản bán hàng đợc ghi
sổ đúng thời gian
2. Quy trình kiểm toán bán hàng- thu tiền.
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán.
ý nghĩa của lập kế hoạch kiểm toán :
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai
trò quan trọng, chi phối tới chất lợng và hiệu quả chung của toàn cuộc kiểm toán.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế hoạch kiểm toán, " KTV và
Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo đợc rằng cuộc
kiểm toán đã đợc tiến hành một cách có hiệu qủa".
Đối với chu trình bán hàng- thu tiền việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ giúp
KTV thu thập đợc các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đa
ra ý kiến xác đáng về các khoản mục doanh thu bán hàng và phải thu khách hàng
trên Báo cáo tài chính từ đó giúp các KTV hạn chế các sai sót, giảm thiểu trách
nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững đợc uy tín nghề nghiệp
đối với khách hàng.
Trình tự lập kế hoạch kiểm toán bao gồm các bớc sau:
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán: Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các
công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả
năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân
viên kiểm toán thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền.
Thu thập thông tin cơ sở: KTV thu thập hiểu biết về ngành nghề, công
việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán cũng nh các chính
sách kế toán đối với việc tiêu thụ của khách hàng. Xem xét lại kết quả của các
cuộc kiểm toán trớc đối với khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng cũng
nh hồ sơ kiểm toán chung. KTV tiến hành tham quan nhà xởng kho bãi, nhận diện
các bên liên quan nh danh sách khách hàng và những ngời nợ.
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng: Giúp cho KTV
nắm bắt đợc các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hởng đến các mặt hoạt động
kinh doanh này, những thông tin này đợc thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban
giám đốc công ty khách hàng nh: giấy phép thành lập và điều lệ hoạt động của công
ty, các Báo cáo tài chính, Báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện
hành và năm trớc, các hợp đồng và cam kết quan trọng.
Thực hiện các thủ tục phân tích: Thủ tục phân tích là việc phân tích các
số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hớng biến động
quan trọng và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan
khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. KTV thờng áp dụng hai
phơng pháp phân tích là phân tích ngang và phân tích dọc. Trong giai đoạn lập kế
hoạch này KTV thờng tiến hành so sánh doanh thu, các khoản phải thu giữa kỳ
này so với kỳ trớc, tính toán tỷ lệ phải thu khó đòi
Đánh giá trọng yếu và rủi ro :
Đánh giá trọng yếu:
Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin,
một số liệu kế toán trong báo cáo tài chính. Mức độ trọng yếu phụ thuộc tầm quan
trọng của thông tin hay của sai sót đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Để xác định
mức trọng yếu KTV tiến hành các bớc sau:.
- ớc lợng ban đầu về mức trọng yếu: Mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu
là lợng tối đa mà KTV tin rằng, ở mức đó các báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhng vẫn cha ảnh hởng đến các quyết định của ngời sử dụng thông tin tài chính. Có thể
ớc tính theo quy mô hoặc ớc tính theo bản chất.
- Phân bổ ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Doanh
thu bán hàng và phải thu khách hàng. Việc phân bổ đợc thực hiện theo cả hai
chiều hớng mà các sai phạm có thể diễn ra đó là tình trạng khai khống và khia
thiếu. Cơ sở để tiến hành phân bổ là bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng,
rủi ro kiểm soát dựa vào kinh nghiệm của KTV và chi phí kiểm toán đối với từng
khoản mục này.
Đánh giá rủi ro trong chu trình bán hàng- thu tiền.
Rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểm toán hoặc KTV đa ra ý kiến
không thích hợp khi báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có những sai sót trọng
yếu
- Rủi ro tiềm tàng của chu trình bán hàng- thu tiền (IR):. Là sự tồn tại sai
sót trọng yếu trong bản thân chu trình bán hàng- thu tiền mà cha tính đến sự tác
động của bất kỳ hoạt động kiểm toán nào để cả hoạt động kiểm toán nội bộ. Trong
khi tiến hành kiểm toán, KTV cần phải dự đoán nơi nào của chu trình bán hàngthu tiền có khả năng sai sót nhất. Qua đó KTV có thể thu thập và phân bổ bằng
chứng kiểm toán một cách hợp lý.
Trong khi đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV cần xem xét một số yếu tố sau:
` Bản chất công việc bán hàng- thu tiền của khách hàng
` Động cơ của khách hàng trong chu trình bán hàng- thu tiền
` Các nghiệp vụ bán hàng- thu tiền có thờng xuyên liên tục xảy ra
` Kết quả những lần kiểm toán trớc của chu trình bán hàng-thu tiền.
` Số d của các tài khoản doanh thu bán hàng và phải thu khách hàng.
- Rủi ro kiểm soát trong chu trình bán hàng- thu tiền (CR): Là sự tồn tại
những sai sót trọng yếu mà hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện và ngăn ngừa
kịp thời, do hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán không hoạt động hoặc
hoạt động không hiệu quả xảy ra trong chu trình bán hàng-thu tiền gây ảnh hởng
trọng yếu đến Báo cáo tài chính. Rủi ro kiểm soát đại diện cho sự đánh giá về cơ cấu
kiểm toán nội bộ của khách hàng có hiệu quả đối với việc phát hiện và ngăn ngừa các
sai sót xảy ra trong chu trình bán hàng-thu tiền hay không? Khi tiến hành kiểm toán
chu trình bán hàng-thu tiền để đánh giá đợc rủi ro kiểm toán trong chu trình thì KTV
cần hiểu đợc cơ cấu kiểm soát nội bộ, đánh giá mức rủi ro kiểm soát và sử dụng mô
hình rủi ro kiểm toán.
Rủi ro kiểm soát trong chu trình bán hàng- thu tiền thờng gặp là:
` Các phơng thức phê duyệt hàng bán trả chậm, giảm giá, xoá sổ các khoản
phải thu khó đòi có đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt hay do kế toán đơn vị tự ý làm
các công việc này khi cha có quyết định của cấp trên.
` Các hoá đơn, chứng từ có đợc đánh số trớc hay không, có đầy đủ chữ ký, phê
duyệt của cấp trên hay không.
` Có sự phân công rõ ràng giữa các công việc trong một bộ phận hay không,
một ngời có thể làm các công việc liên quan đến một nghiệp vụ hay không? ví dụ vừa
bán hàng vừa thu tiền.
- Rủi ro phát hiện của chu trình bán hàng-thu tiền (DR): Là khả năng xảy
ra các sai sót gian lận của các khoản mục của chu trình bán hàng-thu tiền trên Báo
cáo tài chính mà không ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ và
cũng không đợc KTV phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Các loại rủi ro phát hiện trong chu trình bán hàng- thu tiền:
` Số lợng các nghiệp vụ phát sinh nhiều, phức tạp và có liên quan đến nhiều
nghiệp vụ của chu trình khác mà KTV không thể kiểm tra đợc mọi hóa đơn chứng
từ.
` Một số nghiệp vụ bán hàng có phát sinh nhỏ nhng lại là gian lận mà KTV
không phát hiện ra khi kiểm toán.
` Trình độ của KTV còn kém nên không phát hiện ra sai sót hoặc gian lận ở
một nghiệp vụ có số d lớn làm ảnh hởng đến Báo cáo tài chính.
Khi tiến hành kiểm toán KTV cần phải xem xét đến quan hệ giữa các loại
rủi ro kiểm toán, mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro để thu thập bằng chứng một
cách hợp lý.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro :
AR = IR* CR*DR.
Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro:
Trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ ngợc chiều. Khi rủi ro đợc đánh giá ở
mức cao thì KTV phải ớc tính trọng yếu ở mức thấp để thu thập nhiều bằng chứng
kiểm toán và ngợc lại.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment