Saturday, March 19, 2016
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hội cựu chiến binh trong việc cựu chiến binh giúp nhau làm kinh tế giỏi tại xã Yên Đồng (Ý Yên - Nam Định) (2001-2006)
dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ, hội viên. HCCB xã Yên Đồng thực sự là
một tổ chức chính trị - xã hội là chỗ dựa đáng tin cậy của chính quyền cơ sở.
Song hành với nhiệm vụ về chính trị, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng
được Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm đó là triển khai
có hiệu quả phong trào giúp đỡ cựu chiến binh phát triển kinh tế, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của hội viên.
Trở về quê hương với bao suy nghĩ, nhiều cựu chiến binh còn mang trên
mình vết thương chiến tranh nay lại tái phát mỗi khi trái gió trở trời, song họ
vẫn kiên trung sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng và bản chất “Bộ đội
Cụ Hồ” đã được tôi luyện thử thách trong chiến trường. Về cuộc sống đời
thường mỗi người một hoàn cảnh, một vị trí công tác nhưng những người lính
vẫn tâm niệm một điều bộ đội Cụ Hồ xông pha trên trận mạc vượt qua mọi
khó khăn gian khổ, lập nên những chiến công, bây giờ trở về cuộc sống đời
thường lẽ nào lại bị cái đói nghèo đeo bám. Với quyết tâm đó cộng sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể xã hội cựu chiến binh phát
huy tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau phát triển kinh
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hội phối hợp với ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng nông nghiệp
phát triển nông thôn tiến hành cho hội viên vay vốn khắc phục khó khăn phát
triển sản xuất. Chỉ tỉnh trong 5 năm (2001-2006) số nguồn vốn cho cựu chiến
binh vay lên tới 800 triệu đồng, giải quyết cho 200 lượt hội viên vay phát
triển sản xuất. Từ nguồn vốn vay được Hội đã tích cực vận động hội viên
mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đạt năng
suất, giá trị cao, điển hình như các đồng chí hội viên ở các chi hội: An Trung,
Cốc Dương, Đại La 1,2 với những điển hình sản xuất như ông Nguyễn Đức
Thông (xóm 7-thôn Đại La 1) từ nguồn vốn được vay là 10 triệu đồng từ năm
2002 gia đình ông đã sử dụng xây dựng trang trại nuôi lợn nái. Lúc đầu do
nguồn vốn có hạn gia đình mới phát triển chăn nuôi quy mô nhỏ với 4 chuồng
và đàn lợn 20 con. Sau một năm với 2 lứa lợn sau khi đã trừ các chi phí gia
đình thu được lãi là từ 15-17 triệu đồng. Từ kinh nghiệm thu được trong quá
trình chăn nuôi và học hỏi từ các hộ gia đình khác gia định mạnh dạn vay
mượn thêm mở rộng quy mô chăn nuôi tới nay đàn lợn của gia đình lên tới 80
- 90 con. Ngoài chăn nuôi lợn gia đình còn kết hợp chăn nuôi ngan gà với số
lượng từ 100-150 con. Sau 3 năm sử dụng nguồn vốn được vay phát triển sản
xuất đến nay gia đình ông đã xây dựng căn nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi
sinh hoạt, nuôi dậy con cái học hành.
Đối với những thôn xóm có các làng nghề truyền thống Hội khuyến
khích gia đình các hội viên đầu tư phát triển rộng các ngành nghề may mặc,
chắp nứa như chi hội Tiến Thắng, phân hội 1 của thôn Đại An tiêu biểu như
gia đình ông Dương Văn Tiến (xóm 1- thôn Đại An). Những ngành nghề trên
đã góp phần giải quyết nhiều công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho nhiều
lao động dôi dư cho xã, trong đó có con em cựu chiến binh.
Nhiều hội viên khác sử dụng vốn phát triển dịch vụ buôn bán, vận tải
chi hội Nam Đồng, Khang Giang…. Nhiều hội viên sử dụng nguồn vốn vay
được mạnh dạn mua máy cày, máy đập lúa liên hoàn, công nông nhằm phục
vụ việc cày cấy, tuốt lúa cho nhân dân trong địa bàn xã khi vụ mùa tới. Gia
đình ông Nguyễn Thế Cải (đội 7- Đại la 1), Hà Tiến Khay (xóm 32 – Nhế) ….
Với tinh thần tự lực tự cường, để có kinh phí hoạt động và hỗ trợ hội viên
có vốn phát triển kinh tế, ngoài vốn huy động từ ngân sách xã, sự giúp đỡ của
các ban ngành đoàn thể, các chi phân hội đã có nhiều hình thức để xây dựng
quỹ hội như: hội viên tự đóng góp, tổ chức lao động nạo vét mương máng ….
cụ thể: mỗi hội viên khi vào Hội đóng góp vào quỹ của Hội là 150 ngàn đồng
(thóc là 50kg/hội viên). Từ nguồn vốn đó, các chi phân hội tạo điều kiện cho
các hội viên có điều kiện khó khăn vay phát triển sản xuất với lãi xuất thấp
dưới 2 hình thức: tiền (1-2 triệu/hội viên) và thóc (3 tạ/hội viên), lãi xuất 1%,
với thời gian cho vay (3 - 5 năm). Từ nguồn vốn đó các hội viên sử dụng mua
trâu, bò, gia cầm, đào ao thả cá, mua thức ăn, phân bón phục vụ trồng trọt
chăn nuôi phát triển sản xuất.
Để đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn của hội viên là đúng mục đích, đem
lại hiệu quả cao thì HCCB xã đã phối hợp với chính quyền sở tại, với các ban
ngành chuyên môn của huyện, và các xã lân cận, tổ chức những cuộc nói
chuyện, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phát triển sản xuất đem lại hiệu quả
kinh tế cao, thu hồi vốn nhanh; mở những lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt
chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng thành tựu khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh phát triển các làng nghề
truyền thống.
Cùng với hoạt động đó HCCB trực tiếp mời, vận động những hội viên
hiện sử dụng nguồn vốn có hiệu quả phát huy tinh thần tương thần tương ái
trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ về vốn, giống cây trồng vật nuôi giúp các hội
viên khác.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ cơ sở, giúp đỡ của các ban ngành, đoàn thể
địa phương, tính cho tới năm 2006 HCCB xã về cơ bản không còn hộ nghèo,
số hộ có mức kinh tế khá, giàu trở lên chiếm 56,7%, đời sống của gia đình
cựu chiến binh đã được cải thiện rõ rệt, góp phần không nhỏ để xây dựng quê
hương Yên Đồng anh hùng, giàu mạnh.
Với những thành tựu đạt được trên tất cả các HCCB xã Yên Đồng đã
được HCCB tỉnh Nam Định tặng 3 bằng khen, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện Ý Yên tặng 2 giấy khen, 5 chi hội, 10 cá nhân được tỉnh hội, huyện hội
và Ủy ban nhân dân huyện tặng bằng khen, giấy khen.
2.2.1.2. Những khuyết điểm còn tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong phong trào hội viên giúp
nhau làm kinh tế giỏi HCCB xã còn nhiều hạn chế:
Tỷ lệ hộ hội viên còn nghèo trên địa bàn vẫn còn cao (khoảng 2,5-3%),
nhiều gia đình hội viên vẫn phải sinh sống trong những căn nhà bị xuống cấp
nghiêm trọng, các vật dụng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất thiếu thốn,hư
hỏng.
Nguồn vốn được vay từ các ngân hàng và nguồn vốn huy động trong hội
viên vấn còn hạn chế chưa đáp ứng đủ và số lượng hội viên vay và số vốn vay
để phát triển sản xuất cải thiện đời sống gia đình.
Một số hội viên sử dụng sai mục đích nguồn vốn được hoặc khi sử dụng
vốn do thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật nên sử dụng không hiệu quả thậm chí mất
trắng.
Việc rải ngân nguồn vốn cho vay chậm nhiều khi thất thoát.
Thêm vào đó là thiếu sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc
của Đảng bộ, chính quyền cơ sở.
2.2.2. Nguyên nhân ưu khuyết điểm
2.2.2.1. Nguyên nhân đạt được thành tựu
Xét về mặt khách quan: đó là do sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Đảng
bộ, chính quyền cấp cơ sở đối với HCCB; sự phối hợp của các ban ngành
đoàn thể trên địa bàn cả nước đặc biệt ở đây là trên địa bàn xã….
Xét về mặt chủ quan: đó là nhờ tinh thần chủ động, tự lực tự cường quyết
tâm chiến thắng cái đói, cái nghèo của cựu chiến binh; sự thông minh sáng
tạo, tinh thần ham học hỏi của các hội viên trong quá trình sản xuất, chăn
nuôi…
2.2.2.2. Nguyên nhân dẫn tới tồn tại
Nguyên nhân khách quan:
Cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước chưa đáp ứng với tinh hình đổi
mới hiện nay: cấp chi phân hội kinh phí hoạt động không có, cán bộ chi hội
trưởng không có phụ cấp, trợ cấp nên ảnh hưởng tới lòng nhiệt tình, tinh thần
trách nhiệm của cán bộ Hội cũng như hoạt động của Hội.
Do mặt trái của cơ chế thị trường nên tình trạng tiêu cực, tham ô, tham
nhũng, suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền trong xã
hội.
Nguyên nhân chủ quan
Trình độ, năng lực, trách nhiệm của cán bộ Ban chấp hành và cán bộ chi
phân hội còn nhiều hạn chế.
Do cuộc sống của nhiều hội viên còn nhiều khó khăn, nguồn vốn cho hội
viên vay có hạn.
Do đại bộ phận hội viên đều xuất thân từ nông dân nên nhìn chung trình
độ học vấn có hạn vì vậy mà việc vận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, kỹ
thuật máy móc hiện đại vào sản xuất kinh doanh còn yếu kém, chưa phát huy
được hết tính năng của máy móc, kỹ thuật.
Do tư tưởng bảo thủ cố hữu mang tính chất thuần nông nên quá trình
chăn nuôi phát triển sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, việc mở
rộng sản xuất kinh doanh một phần sợ mạo hiểm, phần do nguồn vốn có hạn
nên khó mở làm rộng sản xuất với quy mô lớn.
2.2.3. Bài học kinh nghiệm
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cho hội viên,
tạo niềm tin của hội viên với Đảng, Nhà nước
Tăng cường mở những lớp bồi dưỡng về trình độ, phổ biến kỹ thuật, kinh
nghiệm sản xuất cho hội viên.
Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc rải ngân nguồn vốn từ ngân
hàng xã hội, từ các nguồn hỗ trợ cho cựu chiến binh đảm bảo nguồn vốn tới
đúng địa điểm và được sử dụng có hiệu quả.
Tăng cường sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể, các cơ quan chức
năng trong việc cho vay và sử dụng nguồn vốn.
Có biện pháp giúp đỡ kịp thời về vật chất và tinh thần với hội viên khi có
bất chắc xảy ra.
Nhìn chung giai đoạn (2001-2006) tuy vẫn còn vấp phải nhiều tồn tại
song dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền cơ sở, cùng sự phối hợp của các
ban ngành đoàn thể trong địa bàn xã nên về cơ bản HCCB xã đã hoạt động có
hiệu quả trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế. Những thành tựu đó
góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, tiến tới xóa đói
giảm nghèo, cải thiện đời sống của hội viên trong Hội.
Chương 3
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VỚI
HCCB TRONG VIỆC HỘI VIÊN GIÚP NHAU LÀM KINH TẾ GIỎI
3.1. Quan điểm của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với
HCCB
3.1.1. Quan điểm chung của Đảng
Tại Hội nghị tổng kết phong trào Cựu chiến binh làm kinh tế giỏi, diễn ra
tại Hội trường Ba Đình – Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã
nói:“Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao chủ trương của HCCB Việt Nam, xác
định một trong những nhiệm vụ quan trọng, thiết thực đầy tình nghĩa là xây
dựng phong trào cựu chiến binh nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, làm
giàu hợp pháp”.
Để phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng với HCCB trên các
phương diện đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế Đảng đã để ra những quan điểm cơ
bản như sau:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước, xã hội động viên cựu chiến binh phát huy
tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết, tương thân tương ái để giúp nhau cải thiện
và nâng cao đời sống; đồng thời quan tâm chăm lo tới đời sống và các quyền
lợi hợp pháp của cựu chiến binh.
Thứ hai, các cấp hội cần tiếp tục động viên mạnh mẽ hơn nữa phong trào
cựu chiến binh đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, xóa
đói, giảm nghèo nhanh chóng, vững chắc, đưa phong trào đi vào từng vùng,
miền, từng đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, cựu chiến binh là người
dân tộc thiểu số, thương binh, bệnh binh … Phải nỗ lực phấn đấu để trong
thời gian tới không có hộ cựu chiến binh đói, giảm nghèo tỉ lệ hộ nghèo, tái
nghèo, xóa hết những nhà tạm, nhà dột nát, đồng thời động viên cựu chiến
binh làm giàu hợp pháp, củng cố xây dựng câu lạc bộ doanh nghiệp, hiệp hội
doanh nhân cựu chiến binh; tích cực tham gia những chương trình kinh tế xã
hội ở địa phương, làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, công tác từ thiện, giúp
đỡ đồng báo, đồng chí gặp khó khăn hoạn nạn.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment