Tuesday, June 28, 2016
Bằng chứng kiểm toán và phương pháp thu thập trong kiểm toán báo cáo tài chính
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kiểm toán viên thu thập bằng chứng ở mức độ “có tính thuyết phục” hơn là
“có tính chắc chắn”. Kiểm toán viên cần phải cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng
đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán.
-
Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm toán có độ
tin cậy càng thấp thì càng phải thu thập nhiều bằng chứng bởi vì bằng chứng
có độ tin cậy thấp chưa đủ để nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm
toán. Một sự khẳng định của kiểm toán viên cần phải dựa trên cơ sở vững
chắc vì vậy trong quá trình thu thập bằng chứng, kiểm toán viên phải thu thập
càng nhiều thông tin cùng xác minh cho một vấn đề thì bằng chứng thu được
sẽ càng đáng tin cậy hơn.
-
Tính trọng yếu của bằng chứng kiểm toán: Theo chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam số 200: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng
của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin
được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác
của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo
tài chính”. Theo yêu cầu của chuẩn mực “báo cáo tài chính đã được kiểm toán
không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu so với ý kiến của kiểm toán
viên trong báo cáo kiểm toán” Như vậy đối tượng cụ thể của kiểm toán càng
trọng yếu thì số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều, khi đó
kiểm toán viên mới có thể đưa ra ý kiến xác đáng về đối tượng kiểm toán, nếu
không những sai sót xảy ra ở đối tượng này có thể ảnh hưởng trọng yếu đối
với báo cáo tài chính.
-
Mức độ rủi ro: Những đối tượng được đánh giá có khả năng rủi ro cao thì
số lượng bằng chứng cần phải thu thập nhiều. Ví dụ vốn bằng tiền là khoản
mục có độ rủi ro rất cao bởi vì tiền gọn nhẹ, dễ bị biển thủ, các nghiệp vụ liên
quan đến tiền xảy ra nhiều,… Để giảm thiểu rủi ro kiểm toán phải tăng cường
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các biện pháp kiểm tra tiền như là kiểm kê, kiểm tra chi tiết, tăng số lượng
bằng chứng kiểm toán thu thập.
-
Tính kinh tế, chi phí của việc thu thập bằng chứng kiểm toán: Kiểm toán
viên khi thu thập bằng chứng kiểm toán cần cân nhắc giữa bằng chứng kiểm
toán thu được vớí chi phí bỏ ra để có được bằng chứng kiểm toán đó. Vì vậy
đối với từng khoản mục cụ thể kiểm toán viên phải xác định số lượng bằng
chứng kiểm toán phù hợp để cân đối với toàn bộ chi phí của một cuộc kiểm
toán.
1.2. Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Để thu thập được các bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực, kiểm toán viên
cần phải áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán phù hợp với
từng điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của đối tượng kiểm toán.
Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán được hiểu là các thủ tục, biện
pháp tác nghiệp mà kiểm toán viên tiến hành nhằm thu được bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có hiệu lực. Dưới đây là một số phương pháp chủ yếu:
1.2.1. Kiểm kê vật chất
Kiểm kê vật chất là quá trình kiểm tra tại chỗ các loại tài sản của doanh
nghiệp. Kết quả của quá trình kiểm tra này thường là các biên bản kiểm kê,
biên bản kiểm tra, biên bản đánh giá, bảng thống kê,… Kiểm tra vật chất
thường được áp dụng đối với tài sản có dạng vật chất cụ thể như hàng tồn
kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt và các giấy tờ thanh toán có giá trị.
Kiểm kê hiện vật tài sản là việc không thể thiếu để kiểm tra độ tin cậy
của hệ thống kê khai thường xuyên và lập báo cáo tài chính. Vì vậy việc vận
dụng kỹ thuật kiểm kê để thu thập bằng chứng kiểm toán là vô cùng quan
trọng. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 501 đã quy định rõ: “ Trường hợp
hàng tồn kho được xác định là trọng yếu trong báo cáo tài chính thì kiểm toán
viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tình trạng của hàng tồn kho bằng cách tham gia công việc kiểm kê hiện vật,
trừ khi công việc tham gia là không thể thực hiện được…Trường hợp kiểm
toán viên không thể tham gia kiểm kê hiện vật vào ngày đơn vị thực hiện
kiểm kê, thì phải tham gia kiểm kê lại một số mặt hàng vào thời điểm khác…
Trường hợp kiểm toán viên không thể tham gia kiểm kê, chẳng hạn do tính
chất và địa điểm của công việc kiểm kê này, thì kiểm toán viên phải xác định
xem mình có thể thực hiện các thủ tục kiểm tra thay thế nhằm thu thập đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp về sự hiện hữu và tình trạng hàng tồn kho, để
tránh phải loại trừ vì phạm vi kiểm toán bị giới hạn”.
Kỹ thuật này có ưu điểm:
-
Cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất do kiểm kê xác minh được
sự hiện hữu của tài sản, mang tính khách quan.
-
Cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, có thể kết hợp luôn với kiểm kê
của doanh nghiệp, nó phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.
Tuy nhiên kỹ thuật kiểm kê lại gặp phải những hạn chế nhất định
-
Kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản tại thời điểm kiểm kê mà
không cho biết quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản đó dẫn đến tài
sản có thể hiện hữu nhưng lại là tài sản nhận gia công giữ hộ, tài sản thuê
ngoài, tài sản đã đem thế chấp hoặc thủ kho biển thủ tài sản đến lúc kiểm kê
có thể di chuyển từ nơi khác đến.
-
Kiểm tra vật chất chỉ cho biết sự tồn tại thực tế về số lượng, còn chất
lượng, tình trạng kỹ thuật, tính sở hữu, phương pháp đánh giá tài sản thì chưa
thể hiện.
Vì những hạn chế trên mà kiểm toán viên muốn có những bằng chứng có độ
tin cậy cao thì phải kết hợp với những kỹ thuật thu thập khác để chứng minh
quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó.
1.2.2. Lấy xác nhận
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Kỹ thuật lấy xác nhận là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba độc
lập cung cấp để xác minh tính chính xác của thông tin mà kiểm toán viên nghi
vấn. Đối tượng của phương pháp xác nhận chủ yếu là các khoản phải thu, các
khoản phải trả, tiền gửi Ngân hàng, tài sản kí gửi, ký quỹ, thế chấp…
Hình thức thực hiện việc xác nhận thường bằng văn bản( thư xác nhận).
Việc gửi thư xác nhận phải đảm bảo các yêu cầu sau:
-
Thư xác nhận sau khi đã có chữ ký và dấu của công ty khách hàng được
kiểm toán viên hoặc đơn vị được kiểm toán gửi đến bên thứ ba xác nhận
thông tin theo yêu cầu của kiểm toán viên.
-
Thư phúc đáp phải phải gửi trực tiếp cho kiểm toán viên và kiểm toán
viên phải kiểm soát được toàn bộ quá trình gửi và nhận thư xác nhận.
-
Bên thứ ba phải có sự độc lập đối với công ty được kiểm toán.
-
Sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản.
Kĩ thuật lấy xác nhận thể hiện dưới 2 hình thức:
-
Gửi thư xác nhận dạng khẳng định: Kiểm toán viên yêu cầu người xác
nhận gửi thư trả lời cho tất cả các thư xác nhận dù thực tế có đúng hay không
đúng với thông tin kiểm toán viên đưa ra trong thư xác nhận.
-
Gửi thư xác nhân dạng phủ định: Kiểm toán viên chỉ yêu cầu người
người xác nhận gửi thư trả lời khi có sự khác biệt giữa thông tin thực tế và
thông tin kiểm toán đưa ra trong thư xác nhận.
Trong hai phương pháp trên, phương pháp thứ nhất đáng tin cậy hơn vì
nếu không nhận được thư trả lời thì kiểm toán có các biện pháp điều tra thêm.
Trong khi đó việc không trả lời ở phương pháp thứ hai lại là bằng chứng xác
nhận rằng số liệu đúng (ví dụ trong trường hợp thư bị thất lạc hoặc khách
hàng không muốn trả lời).
14
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phương pháp gửi thư xác nhận có ưu điểm: Bằng chứng thu được có độ
tin cậy cao nếu kiểm toán viên kiểm soát được quá trình thu thập thư xác nhận
vì những mẫu xác nhận có nguồn độc lập với công ty khách hàng.
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng kỹ thuật này có những hạn chế:
-
Chi phí thực thi khá lớn và do đó phạm vi áp dụng tương đối giới hạn,
nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốc gia,..
-
Khả năng thư xác nhận bị thất lạc, hoặc người được xác nhận không hợp
tác không trả lời,…
-
Trong nhiều trường hợp các xác nhận của đối tượng tuy độc lập với
doanh nghiệp nhưng đã có sự giàn xếp, đạo diễn của doanh nghiệp.
1.2.3. Xác minh tài liệu
Là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên
quan sẵn có trong đơn vị được kiểm toán. Đối tượng của phương pháp này là
các hoá đơn bán hàng, hoá đơn mua hàng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, sổ
sách kế toán. Phương pháp này được tiến hành theo hai cách:
-
Thứ nhất, từ một kết luận có trước, kiểm toán thu thập tài liệu làm cơ sở
để khẳng định cho kết luận cần khẳng định. Ví dụ kiểm toán viên muốn điều
tra về các khoản phải trả nhà cung cấp của công ty kiểm toán viên có thể thu
thập tài liệu phiếu yêu cầu mua hàng, hoá đơn mua hàng, phiếu nhập kho,..
-
Thứ hai, kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi
phản ánh vào sổ sách kế toán. Quá trình này có thể tiến hành theo hai hướng:
+
Kiểm tra tài liệu từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán. Hướng xác minh
này được thực hiện khi kiểm toán viên muốn kiểm tra các nghiệp vụ phát sinh
đã được ghi sổ đầy đủ chưa.
15
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+
Kiểm tra từ sổ sách kế toán xuống chứng từ gốc. Hướng xác minh này
kiểm toán thực hiện khi muốn khẳng định các nghiệp vụ kinh tế được ghi sổ
thực tế xảy ra chưa, thực chất là khẳng định tính có thật của các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh.
Kỹ thuật này có ưu điểm: Đem lại bằng chứng có độ tin cậy cao, thuận
tiện trong thực hiện do tài liệu thường có sẵn, chi phí để thu thập bằng chứng
cũng ít hơn các kỹ thuật khác
Tuy nhiên nó vẫn còn những hạn chế:
-
Độ tin cậy của bằng chứng thu được phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc của
tài liệu, nếu sự độc lập của tài liệu thu thập được đối với đơn vị được kiểm
toán không cao thì độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán cũng không cao
-
Các tài liệu kiểm toán viên thu thập để điều tra được lấy từ đơn vị nên có
thể đã bị người cung cấp xuyên tạc, sửa chữa, tẩy xoá, hoặc giả mạo,.. làm
mất tính trung thực, khách quan của tài liệu, do vậy phải có sự xác minh bằng
việc kết hợp các phương pháp khác.
1.2.4. Quan sát
Là phương pháp thu thập bằng chứng thông qua quá trình kiểm toán
viên trực tiếp quan sát, xem xét để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp.
Đó là sự chứng kiến tận mắt các bước công việc, các quá trình thực thi công
việc trong tiến trình hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà kiểm toán viên
cần thu thập bằng chứng. Phương pháp phân tích tìm ra ý nghĩa của số liệu
chứng từ còn phương pháp quan sát trực tiếp nhìn bằng mắt, xem xét và kết
luận bằng nhận thức của chính mình. Ví dụ để đánh giá việc giám sát việc
chấm công trên máy của doanh nghiệp, kiểm toán viên cần quan sát các cán
bộ của doanh nghiệp khi đến công ty và khi ra về có trình thẻ vào máy không,
và khi trình thẻ không hợp lệ vào có bị máy báo lỗi không. Hoặc muốn kiểm
16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment